Muốn dân không mất ruộng, phải xem lại chế độ sở hữu áp dụng đối với ruộng đất của nông dân. Muốn dân không chán ruộng, phải xem lại các chính sách tác động tới nông sản nhằm giúp nông dân được lợi. Có vẻ như một hạt thóc mang lại nhiều lời hơn cho người giữ độc quyền buôn bán giống, phân bón hay kênh xuất nhập khẩu gạo hơn là chút lợi rơi sót lại cho người nông dân. Muốn dân không chán quê, phải xem lại ai được lợi từ chi dùng tài chính công. Một khi điện, đường, trường, trạm, y tế, cây xanh, điện thoại cho tới truyền hình cáp ở đô thị đều sẵn, tốt và rẻ hơn ở nông thôn, thật chẳng ngạc nhiên khi phố chật chội với lao động nhập cư, trong khi thôn quê dần trở nên heo hút với người già và con trẻ.
Nông dân mất ruộng
| Tại sao việc giao đất cho các ông chủ tư bản (trong và nước ngoài) đều có thể dài tới 50 năm, trong khi đó ruộng đất giao cho nông dân canh tác bị giới hạn 20 năm. |
Để diễn biến hòa bình thành một xứ công nghiệp vào năm 2020, không thể im lặng mãi trước vấn đề quyền tài sản của nông dân đối với ruộng đất. Ngược lại muốn bảo vệ nông dân, Nhà nước phải bảo vệ quyền tài sản tư của họ, giúp họ tự do hưởng dụng quyền ấy phù hợp với quy hoạch quốc gia và địa phương. Tại sao việc giao đất cho các ông chủ tư bản (trong và nước ngoài) đều có thể dài tới 50 năm, trong khi đó ruộng đất giao cho nông dân canh tác bị giới hạn 20 năm. Tại sao ông chủ tư nhân có hầu hết các quyền sở hữu trên đất đã được giao (tùy nghi khai thác, hưởng dụng, chuyển bán, thế chấp); trong khi nông dân chỉ có quyền trồng cấy và thu lượm hoa lợi, thậm chí bị hạn định rõ là cây trồng hằng năm hay lưu niên.
| Muốn thành thực với nông dân không thể né tránh một cuộc cách tân đến tận gốc rễ, đó là minh định quyền tài sản của người nông dân Việt Nam đối với ruộng đất. |
Vì lẽ ấy, muốn thành thực với nông dân không thể né tránh một cuộc cách tân đến tận gốc rễ, đó là minh định quyền tài sản của người nông dân Việt Nam đối với ruộng đất. Đối với đất canh tác đã được chia, được giao, được người dân tự khẩn hoang, Nhà nước phải cho một thời hạn để họ tự đăng ký và long trọng tuyên bố quyền sở hữu bất khả xâm phạm của họ. Quyền tài sản ấy không bị giới hạn về thời gian, người dân tùy nghi canh tác, nhượng đổi phù hợp với quy hoạch của chính quyền, tùy nghi bán lại cho các ông chủ tư bản theo giá thỏa thuận hoặc góp vốn kinh doanh như cổ phần trong các công ty. Các ông chủ tịch tỉnh chỉ có quyền xây dựng quy hoạch, không thể có quyền thu hồi đất của nông dân giao cho các dự án, trừ khi Nhà nước bỏ tiền mua lại đất của nông dân vì các mục đích công cộng theo nguyên tắc thỏa thuận dựa trên giá đất của thị trường. Đất đai của toàn dân thì Nhà nước trả lại cho người dân cũng là một lẽ đương nhiên. Nói cách khác, phải thay đổi cách nhìn về sở hữu toàn dân, tăng quyền tài sản tư đối với ruộng đất cho các gia đình nông dân, tôn trọng và nêu rõ thái độ của Nhà nước sẽ bảo vệ sở hữu của họ khi cần thiết. Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 2003 cần được viết lại vì quyền lợi của nông dân.
![]() |
Nông dân chán ruộng
| Nông dân chỉ bám ruộng khi nông sản được giá, nông sản chỉ có giá khi được người mua tin dùng, cái vốn xã hội lớn lao dành cho nông sản Việt Nam chỉ có thể tạo ra với một thái độ rõ rệt của Nhà nước. |
Theo một tư duy thị trường, người có năng lực phải được ban thưởng cho những nỗ lực của mình, tích tụ ruộng đất chắc phải là một nền tảng cho một nền nông nghiệp mang tính cạnh tranh. Khuyến khích và bảo hộ những sự tích lũy tự nhiên đó, đồng thời với những chính sách khuyến khích doanh nghiệp kinh doanh chế biến nông sản, liên kết chuyển giao công nghệ cho nhà nông, hạn chế độc quyền cung cấp nguyên liệu cho nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm, nhà nước cần có một thái độ rõ rệt trong khuyến khích cạnh tranh. Có vẻ như việc tổ chức thu mua, xuất khẩu gạo còn hàm chứa vô số độc quyền; những độc quyền ấy thường ít mang lại lợi ích cho nông dân.
Đã chấp nhận gia nhập WTO với những cam kết không bảo hộ đáng kể gì cho nông sản Việt Nam, điều còn lại mà Nhà nước phải làm là vận dụng được tất cả những cơ hội mà luật lệ khắt khe của WTO cho phép để hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp. Phần từ hạt gạo xuất khẩu dành cho nông dân có đủ lớn mới giữ được họ ở lại với ruộng đồng. Phần ấy có từ việc hạn chế độc quyền xuất nhập khẩu, hạn chế trung gian, song phần ấy cũng có thể khéo léo được tạo ra dưới đủ loại hình thức hỗ trợ mà quốc gia nào cũng hỗ trợ cho nông dân của mình, ví dụ dưới dạng các tài trợ hợp pháp cho thủy lợi, giống, phòng trừ sâu bệnh, hỗ trợ kỹ thuật.
Thêm một điều mà nhà nước đáng ra phải làm đó là khéo léo nâng cao thái độ trân trọng nông sản Việt Nam trong nhận thức và thói quen của dân chúng. Gọi là khéo léo bởi dưới ánh mắt soi mói của các nhà tư bản nước ngoài bất kỳ hành vi phân biệt đối xử nào cũng có thể dẫn đến nhiều hệ lụy. Nhìn người Hàn rầm rộ biểu tình chống thịt bò Mỹ chợt thấy lo khi dân tộc không biết cách phản ứng trước gạo mốc hay nội tạng bảo quản bằng chất hại người được luồn về từ Phương Bắc. Nông dân chỉ bám ruộng khi nông sản được giá, nông sản chỉ có giá khi được người mua tin dùng, cái vốn xã hội lớn lao dành cho nông sản Việt Nam chỉ có thể tạo ra với một thái độ rõ rệt của Nhà nước.
Nông dân chán chốn thôn quê
Không ai muốn và có lẽ cũng chẳng ai có thể chối bỏ quê hương, song nếu mức sống đô thị và nông thôn quá xa khác thì nước ta còn chứng kiến những cuộc di dân to lớn hơn nữa hướng ra phố. Điều này phá nát đô thị và cũng xô đổ văn hóa nông thôn. Việc điều tiết lớn lao này không thể do thị trường, đó phải là trách nhiệm của Nhà nước, càng bắt đầu muộn càng thêm tốn kém và bất lực.
| Muốn làm cho cuộc sống nơi thôn quê tiện ích chẳng kém nơi đô thị, cần có một cuộc kiểm định lại tác động của chi dùng tài chính công đối với khu vực nông thôn và xây dựng các chính sách điều tiết phù hợp. |
Vì lẽ ấy, muốn làm cho cuộc sống nơi thôn quê tiện ích chẳng kém nơi đô thị, cần có một cuộc kiểm định lại tác động của chi dùng tài chính công đối với khu vực nông thôn và xây dựng các chính sách điều tiết phù hợp. Chẳng hạn, nếu thu nhập cho công chức, viên chức nhận nhiệm sở ở đô thị hay thôn quê, ở trung ương hay địa phương cùng một ngạch là cùng một chế độ thù lao thì các địa phương cũng đỡ than phiền về nguồn nhân lực. Tương tự như vậy, nếu khuyến khích trúng và thỏa đáng, các nhà kinh doanh hạ tầng (như điện, nước, truyền thông) mới có động lực để vươn tới nông thôn. Nếu mở rộng tranh luận, người dân sẽ có đủ muôn ngàn kế giúp phát triển nông thôn. Chỉ riêng chi tiêu ngân sách cho các bộ ngành, chẳng hạn nếu Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được đặt tại vựa lúa Cửu Long, Tổng cục du lịch điều hành toàn ngành từ Quảng Ninh hay Bộ LĐ-TB-XH được đặt tại những miền quê Nam Định dư thừa lao động, tôi tin rằng nguồn kinh phí quốc gia sẽ không quá dồn vào những đô thị trọng tâm mà lan tỏa ra rất nhiều vùng. Điều quan trọng đối với chính quyền, vì lẽ ấy, là năng lực lắng nghe và lựa chọn các giải pháp để từng đồng thuế của dân được phân bổ hợp lý nhất, cho hôm nay và cho những ngày sau./.
