![]() |
Ảnh: Upslash.
Một cơ sở dữ liệu tích hợp
Với vai trò là cơ quan quản lý kho dữ liệu KH&CN lớn nhất cả nước, NASTIS tới đây sẽ có một chức năng vô cùng quan trọng là đánh giá hiệu quả của các chính sách, chương trình, nhiệm vụ KH&CN đã, đang và sẽ triển khai.
Hiện nay, NASTIS chịu trách nhiệm cho một loạt các hoạt động - từ quản lý cơ sở dữ liệu về tất cả các nghiên cứu nhận tài trợ từ ngân sách nhà nước; đăng ký hoạt động của các tổ chức KHCN; thực hiện các cuộc khảo sát, thống kê thường niên nhằm xây dựng "sách trắng" ngành khoa học và công nghệ; và cấp quyền truy cập chi phí thấp vào các cơ sở dữ liệu học thuật quốc tế cho các trường đại học của Việt Nam. Cơ quan này cũng đang chuẩn bị đảm nhận thêm vai trò mới là quản lý toàn bộ hệ thống tạp chí và công bố khoa học trong nước với mục tiêu nâng chuẩn và từng bước đưa các tạp chí khoa học Việt Nam vào danh mục SCOPUS quốc tế.
Tuy nhiên, tại buổi làm việc ngày 25/7/2025 của Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng với NASTIS, Thứ trưởng Hoàng Minh thẳng thắn báo cáo Bộ trưởng những khiếm khuyết của hệ thống dữ liệu đang có: thiếu chi tiết, rời rạc, chưa phản ánh đúng tiềm lực thực sự của ngành khoa học công nghệ. Những khoảng trống đặc biệt rõ rệt ở các dữ liệu về nhân lực, trang thiết bị, hạ tầng kỹ thuật và hoạt động nghiên cứu – phát triển (R&D).
Sự thiếu hụt này không chỉ cản trở công tác quản lý mà còn làm lu mờ bức tranh toàn cảnh, khiến việc phân tích và dự báo chiến lược gặp nhiều khó khăn. Ông mô tả dữ liệu KHCN ngành "là một niềm mơ ước" với những người quản lý ở cấp Bộ hoặc địa phương - những người suốt nhiều năm qua gần như lần mò trong sương mù, buộc phải đưa ra quyết định dựa trên phán đoán chủ quan và không đủ bằng chứng xác thực.
Một đơn cử có thể nhìn thấy là nhân lực khoa học. Thống kê hiện nay mới chỉ dừng ở mức ước tính vĩ mô: cả nước có khoảng 207.000 người đang tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), trong đó khoảng 173.000 người (tương đương 83%) trực tiếp làm công tác nghiên cứu, còn hơn 30.000 người làm hỗ trợ kỹ thuật và phục vụ. Khoảng 100.000 người đang làm việc toàn thời gian (chiếm hơn 48%). Và nhân lực R&D chủ yếu tập trung ở các trường đại học (50%) và viện nghiên cứu (30%), còn lại 20% phân bổ ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp.
Nhưng với Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, chừng đó thông tin là chưa đủ. Ông muốn đi xa hơn những con số tổng quát - cần biết cụ thể mỗi người nghiên cứu đó là ai, họ đang làm việc ở đâu, có những chuyên môn gì, theo đuổi các hướng nghiên cứu ra sao, kết quả thế nào, họ có sở hữu những bằng sáng chế gì, hay đang có nhu cầu chuyển giao công nghệ nào không, và còn thiếu điều kiện gì để phát huy tối đa năng lực. Nói cách khác, ông kỳ vọng có được một bức tranh dữ liệu chi tiết, sống động và có chiều sâu dựa trên dữ liệu điểm.
Thông tin chi tiết như vậy không chỉ hữu ích cho công tác quản lý mà còn mở ra lợi ích thiết thực cho cộng đồng khoa học: các nhà nghiên cứu có thể dễ dàng kết nối, tìm thấy đồng nghiệp cùng lĩnh vực, tạo ra các hợp tác liên ngành hiệu quả. Ở chiều ngược lại, nếu một ngành, một doanh nghiệp hay một địa phương cần tìm nhà nghiên cứu và chuyên gia, họ cũng biết tìm ai, tìm ở đâu - chứ không phải phụ thuộc vào quan hệ cá nhân, mạng lưới quen biết, hay đơn giản là... may mắn.
Ông Trần Đắc Hiến, Cục trưởng NASTIS, thừa nhận hiện Cục đang nắm dữ liệu cơ bản của khoảng 17.000 nhà khoa học – chỉ tương đương hơn 8% nhân lực KHCN cả nước. Tuy nhiên, bộ dữ liệu này mới ở mức cơ bản, chưa cập nhật thường xuyên, và còn thiếu các dữ liệu sâu. Một trong những nguyên nhân nằm ở việc các hệ thống dữ liệu trong và ngoài Bộ chưa kết nối được với nhau một cách đồng bộ.
Cuộc họp bàn này đi đến một chiến lược rõ ràng là trong thời gian ngắn nhất, NASTIS phải có quyền truy cập vào tất cả các hệ thống dữ liệu của sáu lĩnh vực mà sáu cơ quan trong Bộ KH&CN quản lý, bao gồm: khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn-đo lường-chất lượng và năng lượng nguyên tử. Tất cả các cơ quan liên quan sẽ phải mở khóa cánh cửa hai chiều về dữ liệu, và NASTIS sẽ trở thành hệ thống thần kinh trung ương để tiếp nhận và phân tích các dữ liệu đó. Nhiều khả năng, việc tập trung dữ liệu của sáu cơ quan thành một dạng "metadata" dùng chung trong Bộ KH&CN sẽ hoàn tất trong năm 2025.
Kết nối dữ liệu nội bộ mới chỉ là bước khởi đầu. Vòng dữ liệu của NASTIS chắc chắn sẽ phải mở rộng ra ngoài phạm vi quản lý hành chính, tiến tới tiếp cận trực tiếp với hơn 260 cơ sở giáo dục đại học, 2500 tổ chức KHCN, và hàng trăm doanh nghiệp KHCN trên cả nước - nơi dữ liệu thực sự được tạo ra và chuyển động mỗi ngày. Yêu cầu tương tự cũng đặt ra khi NASTIS tìm cách kết nối với cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành khác như cơ sở dữ liệu về thuế, doanh nghiệp, hải quan, dân cư v.v, cũng như các bộ dữ liệu của địa phương.
Sứ mệnh của NASTIS là phải nắm bắt được dòng dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống", phản ánh toàn bộ sự vận hành của ngành khoa học và công nghệ, và xa hơn nữa, là đo lường được những ảnh hưởng của nó đến mọi lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. NASTIS được gợi ý nên phát triển các nền tảng dùng chung, miễn phí để các bên liên quan cùng tạo lập và chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực.
Một trung tâm phân tích dữ liệu mới
Tuy nhiên, tập hợp dữ liệu mới chỉ là bước khởi đầu trong kế hoạch mà Bộ KH&CN kỳ vọng ở NASTIS. Cơ quan quản lý cấp cao này muốn biến NASTIS từ một kho lưu trữ dữ liệu thành một trung tâm phân tích dữ liệu và chuyển hóa thành thông tin chiến lược phục vụ quản lý và hoạch định chính sách.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đề cập đến các báo cáo chính sách, bản đồ công nghệ, báo cáo phân tích xu hướng ngành công nghệ, dự báo công nghệ tương lai, cảnh báo sớm rủi ro công nghệ, và đặc biệt là các mô hình đánh giá tác động chính sách. Đây là những sản phẩm "đầu ra" mà NASTIS được yêu cầu phải sớm làm được.
Chẳng hạn, với công nghệ sinh học, cơ quan này phải cho biết Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ thế giới? Mức độ ứng dụng hoặc sáng tạo công nghệ của các doanh nghiệp nội địa ra sao? Cần đầu tư bao nhiêu và theo hình thức nào để công nghệ này bứt phá? Những câu hỏi đó chỉ có thể được trả lời bằng dữ liệu đã qua phân tích sâu.
Về lâu dài, Bộ trưởng yêu cầu NASTIS trở thành một thinktank có khả năng tư vấn trực tiếp cho Bộ KH&CN, và thậm chí gửi kiến nghị đến Chính phủ, Quốc hội. Chức năng của NASTIS sẽ không chỉ nằm ở quản lý dữ liệu mà ở khả năng đưa ra các cảnh báo sớm về đứt gãy công nghệ, tụt hậu đổi mới sáng tạo, hay xác định các hướng công nghệ chiến lược để phục vụ cho những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 5 năm, 10 năm, 20 năm.
Điều này chắc chắn sẽ đặt nhiều áp lực lên NASTIS – nơi vốn quen với vai trò thống kê, thu thập và lưu trữ dữ liệu hơn là phân tích chuyên sâu hay tư vấn chính sách. Việc chuyển mình thành một trung tâm chiến lược dữ liệu đòi hỏi NASTIS không chỉ nâng cấp hạ tầng công nghệ, mà còn phải phát triển năng lực phân tích, hiểu ngành, hiểu chính sách và làm việc đa ngành – những năng lực chưa từng là thế mạnh của họ trước đây.
NASTIS được hứa hẹn sẽ được tạo điều kiện thuận lợi về tài chính và có quyền tham gia xây dựng các quy định pháp lý liên quan đến quy trình dữ liệu trong ngành khoa học và công nghệ. Bộ KH&CN cũng cam kết sẽ cấp đủ nguồn lực và đảm bảo chất lượng để triển khai bất kỳ đề xuất đầu tư nào từ cơ quan này được đánh giá là cần thiết và có giá trị thực tiễn.
Bài đăng KH&PT số 1355 (số 31/2025)
Ngô Hà
