VnExpress Thứ ba, 21/4/2026
Thứ hai, 20/4/2026, 11:59 (GMT+7)

'Drone Việt không vươn tầm thế giới thì khó đủ sức bảo vệ đất nước'

"Ban đầu tôi nghĩ cần 3 năm, nhưng cuối cùng mất 10 năm, tiêu tốn 15 triệu USD, với xác suất thành công 1%. Drone bán qua Mỹ được thì sống, nếu không thì phá sản. Mà muốn bán qua Mỹ được thì phải vượt trội".

TS. Lương Việt Quốc, Realtime Robotic (RtR). Ảnh: Nguyễn Đông. Thiết kế: Mỹ Hạnh

TS. Lương Việt Quốc chia sẻ với Tia Sáng quá trình làm drone Hera chứa trong đó nhiều sáng chế vượt trội, một câu chuyện tiêu biểu cho việc giải các bài toán kỹ thuật của ngành, lâu dài và rủi ro chực chờ.

Không tự chủ được công nghệ drone sẽ bị động trong bảo vệ bầu trời

Tia Sáng: Các cuộc xung đột gần đây, từ Urkraine tới Iran, đã khiến các quốc gia nhận ra tầm quan trọng của công nghệ bay không người lái (drone). Có lẽ đây là bước ngoặt cho cuộc cạnh tranh drone trên thế giới?

TS. Lương Việt Quốc: Có hai lý do chính khiến ngành này bùng lên. Thứ nhất là yếu tố địa chính trị. Thế giới đang có nhu cầu rất rõ ràng là đa dạng nguồn cung drone, tránh phụ thuộc vào một nguồn duy nhất phổ biến lâu nay là Trung Quốc. Đó chính là cơ hội cho các nước có chi phí R&D và sản xuất cạnh tranh như Việt Nam.

Thứ hai, quan trọng hơn, là drone đã trở thành một ngành lưỡng dụng kể từ chiến tranh Nga-Ukraine. Trước đây, người ta có thể coi drone chủ yếu là công nghệ dân sự để tìm kiếm giám sát hay cứu hộ cứu nạn... Nhưng bây giờ, quốc gia nào cũng nhận ra nếu họ không tự chủ được công nghệ này sẽ rất khó bảo vệ bầu trời tổ quốc, khi có xung đột, sẽ hoàn toàn bị động.

Thực tế rất rõ khi cả Nga lẫn Ukraine đều phải mua drone từ bên ngoài (trước đây là linh kiện từ Trung Quốc), vì họ không có hệ sinh thái sản xuất đủ mạnh. Điều đó khiến các nước phương Tây nhìn ra một "lỗ hổng chiến lược". Họ buộc phải tự chủ sản xuất trong nước, hoặc ít nhất phải đa dạng được nguồn cung, chọn được sản phẩm có chuỗi cung ứng tin cậy được.

Chính sự dịch chuyển đó tạo ra cơ hội cho các quốc gia mới tham gia.

Drone Hera trong khuôn khổ triển lãm công nghệ tự hành XPONENTIAL, Detroit, Michigan, Mỹ ngày 13/4 vừa qua. Ảnh: RtR

Cơ hội mở ra, nhưng xin mượn hình ảnh các anh đã nói về Hera như cánh chim sẻ. Trước bầu trời rộng lớn sẵn có các đối thủ đi trước dày dạn kinh nghiệm, chú chim sẻ mới ra ràng định vị hướng bay cho mình ra sao?

Làm drone hay khởi nghiệp bất kỳ cái gì sẽ không có một công thức giống như nấu ăn, kiểu 20 gram đường, 30 gram muối là nó sẽ ra đúng như vậy. Nếu có công thức đó thì ai cũng thành công xuất sắc.

Khởi nghiệp trước hết từ nhìn ra vấn đề nào là quan trọng trong ngành mà người ta chưa giải được. Thực ra chuỗi cung ứng drone rộng, ngành drone cũng giống như xe điện, anh có thể chọn làm pin, có thể chọn làm một hợp kim nào đó tốt hơn cho pin, hoặc là anh chọn làm thân vỏ, hoặc là anh chọn làm động cơ điện... Nên trong cái mớ bòng bong đó, anh phải nhìn ra được bài toán nào là quan trọng cả về thị trường lẫn công nghệ.

Tìm được vấn đề người ta chưa giải được rồi nhìn lại những gì mình có. Thứ nhất Việt Nam có chi phí R&D và sản xuất cạnh tranh so với Mỹ, châu Âu và nhiều nước phát triển khác. Thứ hai là nguồn nhân lực kỹ sư người Việt hoàn toàn giải được những bài toán công nghệ phức tạp, ở nhiều tập đoàn hàng đầu.

Nhưng chừng đó vẫn chưa đủ để tạo ra một doanh nghiệp công nghệ đột phá. Con đường duy nhất để vượt thế giới là phải tạo ra được phát minh.

Kiểm tra tính năng của mạch điện tử điều khiển bay. Ảnh: RtR

Có phát minh chưa đảm bảo rằng mình sẽ hơn người ta, nhưng nếu không có phát minh thì chắc chắn không bao giờ hơn được. Nếu chúng ta không có phát minh, chỉ copy, thì chỉ có thể đuổi theo thế giới, nhưng không bao giờ có thể vượt lên và đủ sức cạnh tranh toàn cầu. Phát minh là cách hầu hết các quốc gia thành công về công nghệ đều áp dụng. Ví dụ Huawei vươn lên đẳng cấp thế giới là vì có nhiều phát minh về 5G hơn các công ty Âu Mỹ. BYD cũng sở hữu và áp dụng một loạt phát minh về pin, nhờ đó họ giành được thị phần vốn trước đây chỉ biết đến Tesla.

Bài toán kỹ thuật drone "nhỏ - to - khoẻ"

Các giải pháp, sáng chế trên Hera tham gia giải quyết bài toán gì cho ngành drone?

Chúng tôi chọn nghiên cứu, sáng chế giải quyết bài toán cơ bản: "nhỏ - to - khoẻ". Trong công nghệ drone, đây là bài toán rất khó, vì ba yếu tố quan trọng: i) nhỏ (để gập lại, cơ động trong ba lô cá nhân), ii) to (để có không gian mang nhiều thiết bị cùng lúc), và iii) khoẻ (để nâng được vật nặng), luôn tỉ lệ nghịch với nhau.

Làm sao để drone vừa nhỏ nhưng vẫn khỏe, vừa gọn khi vận chuyển, nhưng khi bay thì lại đủ to để gắn nhiều cảm biến. Có như vậy thì drone mới vừa tiết kiệm chi phí vận hành, vừa tăng năng suất làm việc.

Chúng tôi đã tập trung tìm hiểu thiết kế đi thiết kế lại trong suốt 3 năm, cuối cùng mới nghĩ ra một thiết kế gập thân máy bay hoàn toàn khác [1]. Nếu so sánh, các mẫu drone M400 của DJI - hãng lớn nhất thế giới - khi gấp lại chỉ giảm thể tích xuống còn khoảng 1/3 so với lúc hoạt động. Trong khi đó, drone HERA có thể gấp gọn tới 14 lần, tức là từ 100% thể tích khi bay thu lại chỉ còn khoảng 7%.

Nhờ đó, hiện tại Hera là drone duy nhất hiện nay có thể làm được 1-4-20: nhỏ gọn trong 1 ba lô, to để mang 4 tải (thiết bị) cùng lúc, và khoẻ đủ để nâng được 20 kg. Lý do là khi bay, Hera mở ra với kích thước lớn hơn nhiều nên cả không gian lẫn sức nâng đều vượt trội. Trong khi đó, cùng điều kiện trang bị cho lính bộ binh mang theo trong ba lô, các dòng drone khác thường chỉ nâng được tối đa 5 kg, và thường chỉ tải được một thiết bị.

Sáng chế thứ hai là một bước tiến lớn trong công nghệ gimbal - bộ phận chống rung cho camera [2]. Trước đây, mỗi gimbal chỉ mang được một camera. Chúng tôi phát triển một hệ thống có thể mang hai camera hoạt động độc lập, quét 360 độ theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang, nên lượng dữ liệu thu được tăng gấp đôi. Ví dụ, trong các tình huống tìm kiếm nạn nhân sau bão lũ, việc có "hai con mắt" giúp tìm kiếm nạn nhân nhanh hơn so với các hệ thống chỉ có một camera. Hệ thống này có thể tích hợp trên drone, và thậm chí sử dụng độc lập cho các giải pháp khác như hệ thống phát hiện và đánh chặn drone.

Gimbal truyền thống chỉ có ba trục, ba động cơ, còn hệ thống của chúng tôi có tới tám trục và tám động cơ. Riêng phần gimbal này mất khoảng 3 năm để chế tạo, vì trước đó chưa từng có thiết kế phức tạp tương tự. Toàn bộ từ thiết kế cơ khí, điện tử đến thuật toán điều khiển đều phải mày mò từ đầu, không có sẵn mô hình hay nền tảng nào để tham chiếu hết.

Với các ưu thế trong thiết kế của mình, dù xếp gọn được trong ba lô nhưng khi bay Hera vẫn cho phép gắn đĩa thu phát Starlink để kết nối trực tiếp qua vệ tinh, thay vì phải nhận tín hiệu từ bộ thu phát trên mặt đất. Tính năng này giúp điều khiển drone từ khoảng cách không giới hạn, người điều khiển có thể ở tại Hà Nội trong khi drone ở TP. Hồ Chí Minh hay bất kỳ nơi nào nhờ kết nối qua vệ tinh. Thực tế chiến trường Ukraine đã có các drone gắn thiết bị trực tiếp kết nối Starlink, tuy nhiên đều là với các drone có kích thước tầm trung trở lên. Hera là drone cơ động trong ba lô cá nhân đầu tiên kết nối qua vệ tinh Starlink.

Drone Hera tại triển lãm tự hành toàn cầu XPONENTIAL
 
 
Hera là drone duy nhất đử sức bay trong điều kiện gió mạnh tại buổi trình diễn cho báo chí, triển lãm tự hành toàn cầu XPONENTIAL [3]. Video: RtR

Đáp ứng tiêu chuẩn của Bộ Quốc phòng Mỹ

Con chip, bộ não của drone, thường được công chúng quan tâm, coi đây là một cơ sở quan trọng đánh giá năng lực tự chủ công nghệ điều khiển drone. Vậy chip của Hera thì sao?

Hầu như tất cả các công ty drone trên thế giới đều không tự sản xuất chip mà sử dụng chip của các hãng chuyên sản xuất, chip RtR cũng thế, vì để tự làm chip thì các hãng lớn ngành chip đầu tư rất lớn bán ra hàng triệu bản, còn drone bán ra với số lượng ít hơn nhiều, không thể tự làm hàng chục loại chip khác nhau được. Chẳng hạn DJI cũng chỉ làm làm một chip, để nén và truyền video, toàn bộ các chip còn lại họ dùng của các hãng chuyên sản xuất chip.

Một thiết bị bay phức tạp luôn cần rất nhiều chip, và không một công ty đơn lẻ nào có thể tự làm chip kiểu đấy. Vì từ thiết kế đến đưa con chip ra thị trường là hàng núi tiền, tính bằng chục đến trăm triệu đô. Một con chip bán ra phải sản xuất hàng triệu bản. Còn drone Hera bán theo nghìn con, làm sao mà tự làm chip được.

Hera sử dụng cả chục loại chip khác nhau của nhiều hãng như Nvidia, Qualcomm, TI,... từ chip nguồn cho tới lập trình, điều khiển, nhưng các giải thuật, phần mềm là do RtR tự phát triển và làm chủ, và đó là lý do Hera có nhiều tính năng vượt trội. Ví dụ. Hera có thể truyền video và điều khiển 6 camera cùng lúc, trong khi các drone khác chỉ điều khiển 2.

Về công nghệ, sản phẩm Hera có thiết kế, phát minh là của mình. Còn linh kiện thì đúng là phải mua nước ngoài vì trong nước chưa tự sản xuất được. Quan trọng là chúng ta phải có phát minh khác biệt, có thiết kế khác biệt, để từ đầu vào như nhau đó, đầu ra là drone của mình phải vượt trội.

Chỉnh sửa một mạch điện tử khi R&D. Ảnh: RtR

Còn về mặt kinh doanh thì chuỗi cung ứng và các tiêu chuẩn quốc tế là rất quan trọng. Ví dụ để bán được cho chính phủ Mỹ, họ yêu cầu sản phẩm phải đạt chuẩn Bộ Quốc phòng, không dùng linh kiện hay phần mềm của Trung Quốc (tiêu chuẩn NDAA). Có nghĩa là mình không sử dụng linh kiện điện tử của Trung Quốc, không sử dụng phần mềm của Trung Quốc, không sử dụng camera hay các linh kiện quan trọng khác của Trung Quốc. Đó là yêu cầu của khách hàng.

Xác suất thành công dưới 1%...

Vốn không phải là chuyên gia, vì sao anh lại theo đuổi con đường làm sáng chế?

Vì phát minh là con đường duy nhất, chúng tôi không có chọn lựa nào khác. Chúng tôi xác định từ đầu là drone của RtR bán qua Mỹ được thì sống, nếu không cạnh tranh ở thị trường Mỹ được thì phá sản. Mà muốn bán qua Mỹ được thì phải vượt trội.

Thật ra lúc bắt đầu tôi nghĩ tốn khoảng 3 năm là làm được sản phẩm để bán nhưng cuối cùng mất tới 10 năm. Vì lúc đầu nhảy vô làm thì đâu phải là chuyên gia liền. Mất ba năm đầu học việc, mua drone của người ta về mổ xẻ xem thế giới làm thế nào. Ba năm kế tiếp là tìm cách đuổi kịp thế giới, tức là làm được những thứ tương tự thế giới. Sau khi tích lũy đủ kiến thức thì mới bắt đầu bật ra những cái mới và có sáng chế vượt lên.

Nhưng phát minh chưa phải là sản phẩm. Từ phát minh trên giấy, mất thêm 3 - 4 năm nữa để biến thành sản phẩm vật lý, sản xuất ở quy mô công nghiệp. Lúc nộp bằng sáng chế vào USPTO (Văn phòng Sáng chế và Thương hiệu, thuộc Bộ Thương mại Mỹ) tháng 10/2021, sau 4 năm mình mới có sản phẩm để bán. Ví dụ phát minh ra một thiết kế giúp gấp drone nhỏ đi 14 lần, ban đầu chỉ là thiết kế trên giấy, còn để sản xuất hàng loạt thì phải qua rất nhiều bước, rất tốn thời gian.

Kỹ sư hoàn thiện cánh quạt carbon. TS. Lương Việt Quốc cho biết sáng chế của Hera đều do các kỹ sư người Việt tạo ra. Ảnh: RtR

Khi R&D đã thành công, sản phẩm có đầu ra và chỗ đứng trên thị trường, liệu doanh nghiệp có thể tạm yên tâm?

Ngay cả khi đã có công nghệ riêng, có sản phẩm phủ rộng rồi, thì rủi ro vẫn chực chờ. Đây là quy luật chung chứ không riêng gì Việt Nam, khi anh làm công nghệ thì rủi ro lớn nhất là nguy cơ "bay sạch" vì một phát minh đột phá nào đó xuất hiện. Trong công nghệ, rủi ro lớn nhất có khi không phải đến từ đối thủ trong cùng ngành, mà là một công nghệ hoàn toàn mới xuất hiện, làm thay đổi luật chơi. Lúc đó coi như anh đang đi tàu mà trật đường ray.

Chúng ta rất khó hình dung về việc đối diện với rủi ro để có được công nghệ mới, từ đó vươn lên vị trí dẫn đầu trong bối cảnh hệ sinh thái đầu tư ở Việt Nam mình mới chỉ đầu tư vào những cái quen thuộc. Hầu hết các doanh nhân thành công ở Việt Nam bằng tài sản hữu hình, như đầu tư vào bất động sản, thương mại. Trong khi R&D và phát minh là tài sản vô hình, rủi ro cao.

Nhưng ở Thung lũng Silicon thì khác. Họ có vòng lặp tái đầu tư vào công nghệ. Những người thành công-như Elon Musk-từng khởi đầu rất nhỏ khi giàu lên sẵn sàng đầu tư mạo hiểm vào công nghệ mới với tham vọng dẫn đầu. Vì bản chất của công nghệ là cập nhật liên tục, là "phá hủy sáng tạo". Anh phải có phát minh liên tục đi trước đối thủ, đứng lại là bị vượt mặt liền. Nên lúc nào cũng phải ở trong cuộc đua phải phát minh đi trước.

Chưa có được hệ sinh thái đó là lý do vì sao Việt Nam mình ít doanh nghiệp công nghệ ở tầm thế giới, chứ không phải vì người Việt Nam mình không đủ thông minh. Tôi hoàn toàn tin rằng, về năng lực tự nhiên, người Đài Loan làm được, người Hàn Quốc làm được, người Trung Quốc làm được, thì không có lý do gì người Việt Nam mình không làm được cả.

Nếu từ đầu biết rằng con đường này sẽ cần đến 10 năm, anh có dám đi không?

Nếu nhìn bằng logic tài chính ngắn hạn thì đúng là không hợp lý. Lúc khởi nghiệp cách đây 10 năm, tôi từng nghĩ chắc đầu tư khoảng 1 triệu đô, tầm hai mấy tỷ là chế tạo được drone để bán. Nhưng thực tế tới hôm nay, chúng tôi đã tiêu 15 triệu đô, gấp 15 lần con số ban đầu. Hồi đó mình nghĩ xác suất thành công của mình phải cỡ 60–70%, vì nếu xác suất thành công kiểu năm ăn năm thua như tung đồng xu thì không ai khởi nghiệp hết. Nhưng thực tế trong làm drone, xác suất sáng chế được thứ đột phá là dưới 1%.

Đóng khuôn đúc thân máy bay, chuẩn bị đưa vào lò nung. Ảnh: RtR

Nếu bỏ 15 triệu đô, xác suất thành công dưới 1%, tốn 10 năm, bạn có dám làm không? Chắc không ai làm. Người ta đi mua đất hay làm gì đó cho khỏe, đúng không? Sau 10 năm ít nhất cũng phải gấp đôi gấp ba. Mà tại sao mình vẫn làm? Một phần là vì mình... ngu, lúc đó mình đâu biết nó khó như vậy.

Bây giờ chúng tôi vẫn thuê nhà trong hẻm, ngồi ghế nhựa, tới giờ còn chưa có một phòng họp riêng, tận dụng cả gara. Toàn bộ tiền cá nhân tôi và các cổ đông đầu tư đang dồn hết vào nghiên cứu, thử nghiệm. Bất cứ điều gì liên quan đến phát minh và nghiên cứu ra sản phẩm mới là sẵn sàng chi hết.

Những đánh đổi như vậy chắc chắn đi cùng kỳ vọng phần thưởng tương xứng!

Nãy giờ tôi mới nói nhiều về mặt trái: thời gian, chi phí, và xác suất thành công cực thấp. Nhưng mặt phải thì sao? Hồi mới khởi nghiệp, tôi nghĩ nếu xây được một công ty trị giá 10 triệu USD đã là rất thành công rồi. Trước đây tôi chưa bao giờ hình dung mình có thể làm một công ty có tiềm năng trở thành kỳ lân.

Còn đến bây giờ, tôi tin là trong khoảng 3-4 năm tới, công ty có nhiều tiềm năng để đạt tới mức độ đó. Ít nhất, ở thời điểm hiện tại, định giá đã hơn 100 triệu USD. Cách đây khoảng một năm rưỡi, chúng tôi đã được định giá gần 60 triệu USD, có nhà đầu tư rót vốn hơn chục triệu đô vào. Và từ đó đến nay, chúng tôi đã đi rất xa.

Người ta từng hỏi ông Jensen Huang, CEO Nvidia, là nếu bây giờ khởi nghiệp lại Nvidia từ đầu thì ông có làm không. Ổng nói không, vì lúc đó ổng không nghĩ nó cực như vậy. Có những giai đoạn suýt chết rất nhiều lần. Nhưng khi mình "đào trúng mỏ vàng" rồi thì phần thưởng cũng vượt xa những gì mình tưởng tượng lúc ban đầu.

...nhưng người Việt hoàn toàn có thể làm chủ các công nghệ phức tạp

Với những thách thức, rủi ro, và ý nghĩa chiến lược của ngành drone trên bình diện quốc gia, theo anh đâu là những chính sách thiết thực nhất hỗ trợ cho các startup trong ngành?

Tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 57 gần đây là xác định công nghệ là con đường để Việt Nam trở nên giàu có, phát triển, và cách làm là sáng tạo. Câu chuyện bây giờ là thực thi.

Với ngành drone, điều quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia là phải đặt mục tiêu đúng: Drone do Việt Nam chế tạo phải "vươn tầm thế giới", nghĩa là phải có khác biệt, phải bán được ở những thị trường cạnh tranh khốc liệt nhất như Mỹ hay các nước G7, với tính năng, chất lượng bằng hoặc hơn người ta.

Chuẩn bị khuôn để đúc thân máy bay bằng carbon. Ảnh: RtR

Lý do là vì drone là công nghệ lưỡng dụng. Nếu thời bình, drone Việt Nam không cạnh tranh được, không bán được ra thế giới, thì thời chiến drone Việt Nam sẽ không đủ sức bảo vệ đất nước. Nếu drone thế giới bay được 20km mà drone Việt Nam chỉ bay được 10km, thì chúng ta không thể bảo vệ đất nước.

Thứ hai, nếu muốn một ngành công nghiệp phát triển đến mức cạnh tranh được với thế giới, thì chính sách quản lý của Nhà nước phải bằng các chính sách ở Trung Quốc, Mỹ, và nhiều nước khác. Nếu cơ chế của mình còn kém hơn người ta, thì mình vươn lên theo Nghị quyết 57 bằng cái gì? Lời giải nằm ngay trong Nghị quyết 66, đưa thể chế thành lợi thế cạnh tranh, nghĩa là thể chế của mình phải thuận lợi bằng hoặc hơn các nước khác. Khi chi tiêu cho R&D của chúng ta đã thấp, chất lượng nhân lực so với các nước dẫn đầu vẫn còn khoảng cách, nếu cơ chế của mình không thuận lợi bằng người ta, thì làm sao có thể vươn lên, làm sao có thể bắt kịp thế giới.

Lấy ví dụ ở Mỹ, nếu bay drone ở khu vực không có dân cư, cách sân bay trên 5 dặm (khoảng 8 km), và dưới độ cao 122 m, thì không cần xin phép. Vì những điều kiện đó gần như không ảnh hưởng đến an toàn hàng không hay con người. Nhờ vậy, các ứng dụng như nông nghiệp hay quản lý rừng có thể triển khai rất dễ dàng. Chính sự linh hoạt đó giúp thị trường phát triển, tạo ra nhu cầu thực tế.

Một ví dụ khác là khi chúng tôi nhập các module truyền dữ liệu giữa drone và mặt đất. Ở Việt Nam, có những loại thiết bị không được phép nhập khẩu. Trong khi đó, ở nhiều nước khác, các module này được nhập khá dễ dàng, hoặc ít nhất vẫn được cấp phép cho mục đích nghiên cứu.

Quốc gia nên có chính sách ưu tiên tài trợ cho nhóm "đoạt huy chương vàng" - các doanh nghiệp có sản phẩm công nghệ vươn tầm thế giới. Đây cũng là bài học thực tiễn thành công của Đài Loan, Hàn Quốc, và Trung Quốc.

TS Lương Việt Quốc (thứ hai từ trái) cùng các kỹ sư phát triển drone Hera, TPHCM tháng 4/2022. Ảnh: Thy Nguyễn

Ví dụ, tại Hàn Quốc trước đây chính phủ hỗ trợ cấp vốn vay giá rẻ và bảo hộ thị trường nội địa cho các Chaebol, nhưng với một điều kiện tiên quyết: phải chứng minh được sản phẩm của mình đủ sức cạnh tranh quốc tế. Nếu không, nhà nước sẽ cắt tài trợ. Chính sách này ép các doanh nghiệp không thể lười biếng, trục lợi chính sách bằng cách vắt sữa thị trường nội địa được bảo hộ.

Chúng ta thấy các công ty công nghệ cạnh tranh tầm thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực dân sự đều là các công ty tư nhân. Ở phương Tây là Nvidia, Apple, Tesla, Microsoft, Google. Gần mình nhất là Trung Quốc với Huawei, BYD, CATL, Xiaomi, Tencent, ... cũng toàn là công ty tư nhân. Họ buộc phải đổi mới sáng tạo liên tục và chấp nhận rủi ro cực lớn. Công ty quốc doanh thì không bao giờ làm R&D nhanh bằng tư nhân được, không phải vì họ thiếu tiền mà vì cơ chế không cho phép họ đi nhanh và chấp nhận rủi ro đến thế.

Một doanh nghiệp nhỏ bé đơn độc như RtR, trước giờ không có chính sách hỗ trợ, mà còn có sáng chế, làm chủ công nghệ, và bán được sản phẩm UAV vào Mỹ thì không có lý gì khi đất nước tập trung nguồn lực phát triển công nghệ, nếu thực hiện cả 3 điều trên, lại không sản sinh ra nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt ở tầm thế giới.

Cảm ơn anh về buổi chia sẻ!

Bảo Châu thực hiện

---

Chú thích:

[1] Bằng sáng chế số: AU2022256157, cấp ngày 4/1/2024, do Cục Sở hữu trí tuệ Úc cấp.

[2] Bằng sáng chế số: US 11,898,690 B1, cấp ngày 13/2/2024, do USPTO cấp.

[3] Fox cũng đưa tin về cuộc trình diễn này, tham khảo thêm tại đây: https://www.linkedin.com/posts/xponentialshow_detroit-activity-7449903576946118656-JVWy/