Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng số, đặc biệt trong lĩnh vực gọi xe và giao hàng, đang làm thay đổi cấu trúc thị trường lao động. Đông đảo người lao động làm việc cho nền tảng -được cho là công việc linh hoạt, mở rộng cơ hội việc làm và tối ưu năng suất nhưng cũng chịu sự kiểm soát chặt chẽ, máy móc của thuật toán. Đồng thời họ không có các quyền lợi tối thiểu của người lao động do các nền tảng từ chối gọi là "người lao động".
Tại châu Âu, quy mô của lực lượng lao động nền tảng số ngày càng tăng. Nếu như năm 2024, có hơn 28 triệu người làm việc thông qua một hoặc nhiều nền tảng số, với khoảng 500 nền tảng đang hoạt động; thì đến năm 2025, dự báo tăng lên 43 triệu người - nghĩa là tăng thêm một nửa (đến thời điểm viết bài này chúng tôi chưa tìm thấy con số thực tế của 2025). Trong đó, doanh thu lớn nhất ước tính đến từ các lĩnh vực giao hàng và dịch vụ taxi. Sự gia tăng nhanh chóng này buộc EU phải xem xét lại cách tiếp cận pháp lý đối với nhóm lao động này.
Ước tính, trong quy mô các ngành lao động nền tảng số, dịch vụ giao hàng và taxi đang chiếm doanh thu lớn nhất. Ảnh: Pexel
Khái niệm công việc nền tảng
Trong bối cảnh đó, sau một thời gian dài tranh luận, Liên minh châu Âu đã thông qua Chỉ thị (EU) 2024/2831 về cải thiện điều kiện làm việc đối với lao động nền tảng (Directive on improving working conditions in platform work) vào năm 2024, trong đó trọng tâm là thiết lập các nguyên tắc chung để xác định tình trạng việc làm. Chỉ thị này đã có hiệu lực ở cấp Liên minh châu Âu và các quốc gia thành viên có nghĩa vụ nội luật hóa vào hệ thống pháp luật quốc gia trong thời hạn nhất định. Cách tiếp cận này được xem là kinh nghiệm đáng tham khảo đối với các quốc gia đi sau như Việt Nam.
Do chỉ thị không áp dụng trực tiếp đối với doanh nghiệp mà phải được chuyển hóa thành luật quốc gia, việc thực thi trên thực tế sẽ phụ thuộc vào tiến độ và cách thức nội luật hóa của từng nước thành viên.
Chỉ thị của EU sử dụng thuật ngữ "người thực hiện công việc nền tảng" (person performing platform work) để chỉ tất cả những người làm việc thông qua nền tảng, không phụ thuộc vào cách các bên mô tả quan hệ lao động (quan hệ lao động hay tự làm chủ).
Cách tiếp cận này cho phép bao quát cả hai nhóm: người lao động phụ thuộc và nhà thầu độc lập, qua đó mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp bảo vệ. Đồng thời, nó cũng bám rất sát thực tế việc các nền tảng số "đặt tên" quan hệ trong hợp đồng không phải lúc nào cũng phản ánh đúng bản chất của quan hệ lao động.
Mặc định quan hệ lao động, nền tảng muốn bác bỏ phải tự chứng minh
Chỉ thị (EU) 2024/2831 đặt ra các nguyên tắc quan trọng trong việc xác định tình trạng việc làm của người làm việc qua nền tảng số.
Trước hết, các quốc gia thành viên phải xây dựng các thủ tục để xác minh chính xác tình trạng việc làm của người lao động, nhằm xác định quan hệ lao động theo quy định pháp luật.
Việc xác định này phải dựa chủ yếu vào các yếu tố thực tế của quá trình làm việc, đặc biệt là cách thức tổ chức công việc, bao gồm cả việc sử dụng các hệ thống giám sát tự động hoặc hệ thống ra quyết định tự động.
Một điểm đáng chú ý là chỉ thị đưa ra cơ chế "giả định pháp lý" về quan hệ lao động. Có thể hiểu đơn giản là mặc nhiên coi quan hệ giữa người làm việc qua nền tảng và nền tảng là quan hệ lao động, nếu có các dấu hiệu về sự chỉ đạo, điều hành và kiểm soát. Nói cách khác, pháp luật không nhìn vào việc hai bên gọi nhau là gì trong hợp đồng, mà nhìn vào cách công việc thực sự diễn ra - đặc biệt là khi nền tảng dùng thuật toán để giám sát, phân việc và điều phối lao động.
Trong trường hợp này, nếu nền tảng muốn phủ nhận quan hệ lao động, họ có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh. Như vậy, gánh nặng chứng minh được chuyển từ người lao động sang phía doanh nghiệp nền tảng.
Cơ chế này nhằm khắc phục tình trạng phân loại sai người lao động trên nền tảng, tạo điều kiện để họ được phân loại lại và tiếp cận đầy đủ các quyền theo pháp luật. Đồng thời, nó giúp đơn giản hóa thủ tục cho người lao động khi xác định tình trạng việc làm của mình.
Yếu tố cốt lõi để xác định mối quan hệ lao động là việc nền tảng dùng thuật toán để giám sát, phân việc và điều phối lao động. Ảnh: Một tài xế hoàn thành "cuốc" và đang chờ được nền tảng số phân phối cho "cuốc" xe mới. Tác giả: Hoàng Việt.
Gợi ý cho Việt Nam
Tại Việt Nam, lao động nền tảng số đang gia tăng nhanh chóng lên hàng trăm nghìn người, chủ yếu trong lĩnh vực vận tải, với lực lượng chính là các tài xế xe công nghệ. Tuy nhiên, các khảo sát gần đây cho thấy chỉ khoảng 7% trong số này tham gia bảo hiểm xã hội, chủ yếu dưới hình thức tự nguyện. Đơn cử, lực lượng tiêu biểu trong loại hình lao động nền tảng số là đại đa số lái xe công nghệ vẫn chưa tiếp cận được giải pháp an sinh xã hội. Chưa kể, dù đây là một nghề đối diện với nhiều rủi ro, nguy cơ tai nạn cao nhưng hầu như không ai được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Về mặt pháp lý, có thể thấy một số hạn chế chính.
Thứ nhất, pháp luật lao động hiện hành chưa có khái niệm hoặc quy định riêng về người làm việc thông qua nền tảng số. Đồng thời, cũng chưa có quy định về quyền lợi tối thiểu đối với những người làm việc ngoài quan hệ lao động truyền thống.
Thứ hai, chưa có cơ chế cụ thể để phân loại tình trạng việc làm. Mặc dù Bộ luật Lao động năm 2019 đã đưa ra các tiêu chí xác định quan hệ lao động, bao gồm: có việc làm có trả công, có hợp đồng và có sự quản lý, điều hành, giám sát, nhưng các tiêu chí này vẫn còn mang tính khái quát và khó áp dụng trong bối cảnh nền tảng số.
Trong thực tiễn, việc xác định quan hệ lao động có thể rút ra thêm từ khuyến nghị của toà án về phân loại và phúc lợi của tài xế xe công nghệ trong Phán quyết trong vụ án Vinasun kiện Grab. Tại bản án sơ thẩm năm 2018 và phúc thẩm năm 2020, toà án cấp sơ thẩm và toà án cấp phúc thẩm kiến nghị cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền: "Xem xét trách nhiệm của Công ty trách nhiệm hữu hạn Grab trong việc thực hiện các nghĩa vụ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động tham gia làm việc cho Grab theo đúng quy định".
Tuy nhiên, về phía doanh nghiệp, quan hệ với tài xế vẫn được xác định là "hợp đồng hợp tác kinh doanh", trong đó nền tảng cung cấp phần mềm, còn tài xế là cá nhân độc lập tham gia cung cấp dịch vụ.
Vào năm 2018 - 2019, vụ kiện giữa Vinasun và Grab gây tranh cãi rất lớn, và là tâm điểm chú ý của giới tài xế truyền thống và tài xế công nghệ. Trong ảnh: Tài xế Vinasun đòi hỏi phải quản lý Grab như một hãng taxi. Ảnh: Hữu Khoa/ VNE
Sự khác biệt này cho thấy vấn đề cốt lõi hiện nay nằm ở việc chưa có cơ chế pháp lý rõ ràng để xác định tình trạng việc làm, dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất.
Từ kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam tham khảo:
Trước hết, cần xây dựng và bổ sung khái niệm người làm việc thông qua nền tảng kỹ thuật số vào hệ thống pháp luật về lao động và việc làm, đồng thời xác định đây là nhóm lao động cần được bảo vệ với các quyền lợi tối thiểu về lao động và an sinh.
Việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế cần có chọn lọc, phù hợp với điều kiện trong nước, đặc biệt là trong việc xây dựng khái niệm "nền tảng lao động kỹ thuật số", bao gồm các yếu tố như cung cấp dịch vụ qua phương tiện điện tử, theo yêu cầu của khách hàng, có tổ chức công việc và có sử dụng hệ thống giám sát bằng thuật toán hoặc ra quyết định tự động.
Thứ hai, cần hoàn thiện các tiêu chí và thủ tục xác định tình trạng việc làm, dựa trên bản chất của quan hệ thay vì hình thức hợp đồng. Việc này đòi hỏi nghiên cứu và khảo sát thực tiễn một cách đầy đủ, do đặc điểm đa dạng và không đồng nhất của các nền tảng.
Thứ ba, có thể xem xét áp dụng cơ chế "giả định pháp lý" theo hướng chuyển nghĩa vụ chứng minh sang phía doanh nghiệp trong trường hợp có tranh chấp về tình trạng việc làm. Điều này giúp giảm gánh nặng cho người lao động và tăng tính khả thi trong thực thi pháp luật.
Thứ tư, cần xây dựng các chế tài đối với hành vi phân loại sai tình trạng việc làm, đồng thời mở rộng phạm vi điều chỉnh sang các lĩnh vực liên quan như an sinh xã hội, thuế và thậm chí là pháp luật hình sự, tương tự kinh nghiệm của một số quốc gia châu Âu.
Lao động nền tảng là một xu hướng tất yếu trong quá trình số hóa nền kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đặt ra những thách thức mới đối với hệ thống pháp luật, đặc biệt là trong việc xác định tình trạng việc làm. Việc thiếu các quy định rõ ràng không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động mà còn gây khó khăn cho công tác quản lý thị trường lao động.
Kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu cho thấy, việc xác định đúng "danh phận pháp lý" của người lao động là yếu tố then chốt để xây dựng một khung pháp lý phù hợp. Đây cũng là hướng đi cần được nghiên cứu và vận dụng trong quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
---
Tài liệu tham khảo:
- European Sources Online (2024), Directive (EU) 2024/2831 on improving working conditions in platform work, https://www.europeansources.info/record/proposal-for-a-directive-on-improving-working-conditions-in-platform-work/, truy cập ngày 05/3/2025
- Yildirmaz, A.; Goldar, M.; Klein, S. Illuminating the Shadow Workforce: Insights into the Gig Workforce in Businesses; ADP Research Institute: Roseland, NJ, USA, 2020.
- The Council of the EU and the European Council (2025), EU rules on platform work, link: https://www.consilium.europa.eu/en/policies/platform-work-eu/, truy cập ngày 06/03/2025
- Đặng Sơn (2024), Quản lý Nhà nước là hy vọng cho lái xe công nghệ, https://kinhtedothi.vn/quan-ly-nha-nuoc-la-hy-vong-cho-lai-xe-cong-nghe.html, truy cập ngày 09/03/2025
- Hồ Thị Thanh Trúc, Hoàng Xuân Sơn (2024), completing the law on adjusting the sharing economy model in the road transport sector in vietnam in the context of the fourth industrial revolution, Revista Juridica, Vol. 1, n. 77/p. 790 – 808/ Janeiro/Março 2024, DOI: 10.26668/revistajur.2316-753X.v1i77.6852
- Toà án nhân dân cấp cao. (2020). Bản án Kinh doanh thương mại phúc thẩm số 05/2020/KDTM-PT ngày 10 tháng 3 năm 2020. Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. (2018). Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 1910/2018/KDTM-ST ngày 28 tháng 12 năm 2018.
- Hợp đồng hợp tác giữa Grab và tài xế, https://www.grab.com/vn/terms-policies/driver-partners-terms-and-conditions/, truy cập ngày 14/03/2025
- Emanuele Menegatti, ‘The Classification of Platform Workers through the Lens of Judiciaries: A Comparative Analysis’, in Tamás Gyulavári and Emanuele Menegatti (eds.), Decent Work in the Digital Age (Hart 2022), 110–118.
- Christian Koops and Ludmilla Maurer (2021), Freelancers and Misclassification Risks in Germany – New legal Boundaries for Gig Economy?, https://connectontech.bakermckenzie.com/freelancers-and-misclassification-risks-in-germany-new-legal-boundaries-for-gig-economy/, truy ngày 09/03/2025