Trả lời câu hỏi này giúp làm rõ mức độ phù hợp giữa đào tạo đại học và nhu cầu của thị trường lao động, từ đó gợi mở những điều chỉnh cần thiết cho giáo dục đại học. Đặc biệt, việc tìm hiểu được số lao động phải làm việc dưới trình độ được đào tạo còn cho thấy nguy cơ lãng phí nguồn nhân lực.
Để tìm câu trả lời cho vấn đề này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu sử dụng dữ liệu Điều tra Lao động việc làm Việt Nam giai đoạn 2018–2022, với cỡ mẫu gần 180.000 người lao động tốt nghiệp đại học còn đang làm việc, dưới 61 tuổi [1].
Ảnh minh họa: Công nhân làm việc trong một nhà máy sản xuất ở Bình Dương. Tác giả: Đình Trọng
Bằng đại học có giúp người lao động tìm được công việc phù hợp?
Nghiên cứu của chúng tôi phân biệt hai dạng không phù hợp giữa đào tạo và việc làm.
Thứ nhất là không phù hợp về trình độ đào tạo. Tình trạng này xảy ra khi người có bằng đại học làm công việc vốn chỉ cần tới trình độ thấp hơn. Chẳng hạn, một người tốt nghiệp đại học đảm nhận công việc mà nhà tuyển dụng chỉ yêu cầu trình độ trung cấp hoặc phổ thông.
Thứ hai là làm trái ngành: Người lao động làm công việc không liên quan đến chuyên ngành đã học, mặc dù trình độ đào tạo phù hợp với yêu cầu công việc.
Kết quả thống kê mô tả cho thấy 61,9% người tốt nghiệp đại học có công việc phù hợp cả về trình độ và ngành đào tạo. 38,1% còn lại gặp ít nhất một hình thức không phù hợp, trong đó 12% làm dưới trình độ được đào tạo, 17,1% làm trái ngành và 9,1% đồng thời vừa làm dưới trình độ được đào tạo, vừa làm trái ngành.
Điều này cho thấy việc có bằng đại học không đồng nghĩa với việc người lao động sẽ tìm được công việc phù hợp với kiến thức và kỹ năng được đào tạo.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy ngành học có liên quan chặt chẽ đến khả năng tìm được việc làm phù hợp với trình độ và ngành học. Cụ thể, những người tốt nghiệp ngành giáo dục và sư phạm có tỷ lệ làm việc đúng ngành, đúng trình độ cao nhất, đạt khoảng 84,4%, tiếp đến là y tế và sức khỏe (78,9%), kinh doanh và quản lý (67,8%).
Ngược lại, tỷ lệ này vào khoảng 26% đối với nông nghiệp, 37% đối với khoa học và máy tính, và 40% đối với nghệ thuật và 25% với ngành nhân văn.
Làm việc dưới trình độ được đào tạo tác động đáng kể tới tiền lương
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp ước lượng vững kép (Doubly Robust Estimator) để đánh giá sự khác biệt về tiền lương giữa các nhóm lao động.
Kết quả cho thấy, đáng chú ý, những người vừa làm trái ngành, vừa làm công việc dưới trình độ đào tạo phải chịu bất lợi đáng kể về tiền lương, với mức chênh lệch ước tính khoảng 15% so với những người có công việc phù hợp với trình độ và ngành học được đào tạo. Ví dụ, nếu một người làm công việc phù hợp với ngành học và trình độ được đào tạo nhận lương 10 triệu đồng/tháng, thì người vừa làm trái ngành vừa làm công việc dưới trình độ có mức lương thấp hơn khoảng 1,5 triệu đồng, tức còn khoảng 8,5 triệu đồng/tháng. Khoảng cách này có thể kéo dài, ảnh hưởng tới cả quỹ thu nhập trong dài hạn lẫn sự nghiệp của người lao động.
Trong khi đó, làm việc trái ngành nhưng vẫn đúng trình độ mang lại các tác động phân mảnh hơn. Chẳng hạn, một khảo sát dữ liệu lao động việc làm và công bố khác của chúng tôi cho thấy nhóm lao động được đào tạo trong ngành nông nghiệp nhưng làm trái ngành thì có mức lương cao hơn, trong khi đó nhóm lao động học kinh doanh làm trái ngành thì lại nhận mức lương thấp hơn làm đúng ngành [2].
Các yếu tố tác động tới tình trạng làm việc trái ngành hoặc dưới trình độ
Để xác định các yếu tố liên quan đến khả năng người tốt nghiệp đại học làm việc trái ngành hoặc dưới trình độ được đào tạo, nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logit đa thức (multinomial logit). Phương pháp này cho phép phân tích đồng thời ba loại việc làm không phù hợp so với nhóm làm việc phù hợp hoàn toàn, có tính đến các đặc điểm khác của người lao động.
Kết quả hồi quy (đã kiểm soát các đặc điểm cá nhân, hộ gia đình, khu vực việc làm, địa phương và năm khảo sát) cho thấy những ngành có định hướng nghề nghiệp tương đối rõ ràng, như giáo dục và y tế, thường có sự gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và việc làm.
Nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt giữa nam và nữ, khu vực công và tư. Cụ thể, nam giới có khả năng làm việc dưới trình độ đào tạo hoặc trái ngành cao hơn nữ.
Người tốt nghiệp đại học làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể làm việc dưới trình độ đào tạo và trái ngành cao hơn so với người làm việc trong khu vực công.
Bên cạnh đó, người lao động ở thành thị nhìn chung có lợi thế hơn người lao động ở nông thôn trong việc tìm kiếm công việc phù hợp với trình độ đào tạo và ngành học.
Do sử dụng dữ liệu điều tra lao động việc làm mang tính thời điểm, nghiên cứu chỉ phản ánh tình trạng việc làm và mức độ phù hợp giữa công việc với trình độ, ngành học tại thời điểm khảo sát. Dữ liệu không cho phép theo dõi từng người lao động qua thời gian để xác định họ chuyển từ công việc phù hợp sang không phù hợp, hay ngược lại.
Khuyến nghị
Những kết quả này phản ánh sự khác biệt về cơ hội việc làm giữa các nhóm lao động và cách thị trường sử dụng nhân lực có trình độ đại học.
Từ đó, chúng tôi khuyến nghị các trường đại học cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng đào tạo và mức độ phù hợp giữa việc làm với ngành học, trình độ được đào tạo, thay vì chỉ thống kê tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp. Các con số thống kê cho thấy tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm cao chưa chắc phản ánh đầy đủ hiệu quả đào tạo nếu nhiều người tốt nghiệp phải đảm nhận những công việc không đòi hỏi trình độ hoặc không sử dụng được kiến thức đã học.
Để cải thiện tình trạng này, chính sách giáo dục đại học cần gắn kết chặt chẽ hơn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động, đồng thời cung cấp thông tin đầy đủ về triển vọng nghề nghiệp theo từng ngành đào tạo và nâng cao chất lượng tư vấn hướng nghiệp. Bên cạnh đó, cần có cơ chế giúp người lao động chuyển đổi nghề nghiệp, bổ sung kỹ năng và thích ứng với sự thay đổi của thị trường lao động.
Hiệu quả của giáo dục đại học không chỉ được đo lường bằng số lượng người tốt nghiệp hay tỷ lệ có việc làm, mà còn bằng mức độ kiến thức, kỹ năng và trình độ đào tạo được sử dụng hiệu quả trong công việc.
Chú thích:
[1] Tran, T. Q., Nguyen, H. T. T., Vu, N. B. T., & Le, D. V. (2026). Factors Associated With Vertical and Horizontal Job-Education Mismatches: Insights From University Graduates in Vietnam. Evaluation Review, 50(4), 577–609. https://doi.org/10.1177/0193841X251409287
Bài báo là kết quả nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted) mã số 502.01-2023.27 do PGS.TS Trần Quang Tuyến làm chủ nhiệm.
[2] Tác động của việc làm trái ngành đào tạo tới tiền lương của người lao động tốt nghiệp đại học ngành nông nghiệp ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển. https://js.ktpt.edu.vn/index.php/jed/article/view/1813
Does job mismatch affect wage earnings among business and management graduates in Vietnam? Research in International Business and Finance. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0275531923001083