Sáng 3/4/1975, thành phố Đà Lạt được hoàn toàn giải phóng, nhưng "trái tim" lò hạt nhân TRIGA Mark II không còn nữa. Chỉ ba ngày trước, khi chiến sự áp sát Đà Lạt, một nhóm chuyên gia Mỹ lặng lẽ hoàn tất nhiệm vụ tháo những thanh nhiên liệu cuối cùng khỏi lò phản ứng trước khi người Mỹ rút đi.
Vài ngày trước đó, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đã gửi điện mật tới Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, yêu cầu bằng mọi cách phải rút nhiên liệu khỏi lò phản ứng Đà Lạt. Với Washington, đó là công nghệ tuyệt mật, họ không muốn rơi vào tay một chính quyền mới có quan hệ với Liên Xô.
Tuy nhiên có lẽ người Mỹ cũng không dự liệu hết, rằng từ phần vỏ lò để lại, với sự hỗ trợ của Liên Xô và nỗ lực của nhiều thế hệ nhà khoa học Việt Nam, lò phản ứng Đà Lạt sẽ được hồi sinh bằng một "trái tim" mới. Chính từ công trình "vỏ Mỹ, ruột Nga" độc nhất ấy, Việt Nam bắt đầu hành trình nửa thế kỷ xây dựng năng lực hạt nhân dân sự của mình.
Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt nằm giữa khu đất rộng khoảng 14 ha, trên đường Nguyên Tử Lực, được quy hoạch theo kiến trúc vòng tròn đồng tâm đặc trưng. Ảnh: Trường Hà
"Đừng đối xử với lò Đà Lạt như con hổ"
Từ cuối những năm 1960, khi còn làm việc tại Viện Liên hợp nghiên cứu hạt nhân Dubna, GS Nguyễn Đình Tứ đã trao đổi với đồng nghiệp rằng cần tìm hiểu kỹ về lò phản ứng TRIGA Mark II ở Đà Lạt. Đất nước còn chia cắt, lò phản ứng nằm ở miền Nam, do Mỹ xây dựng, gần như ngoài tầm với của giới khoa học miền Bắc. Nhưng với tầm nhìn từ rất sớm, khi ấy ông đã nhận ra năng lượng nguyên tử là một phần năng lực quốc gia mà Việt Nam sớm muộn phải làm chủ.
Sau năm 1975, cơ hội tiếp quản đã đến, nhưng lò phản ứng TRIGA Mark II công suất 250 kW, từng vận hành từ năm 1963 đến 1968, đã bị rút toàn bộ nhiên liệu.
Là một trong những cán bộ khoa học đầu tiên được phép vào khảo sát lò phản ứng hạt nhân, PGS. TS Nguyễn Nguyên Phong còn nhớ những ấn tượng ban đầu: "Trong nước tinh khiết (~ 2 MΩ.cm) của lò có nhiều đầu mẩu thuốc lá và dây thun (!), nhà lò và khối bảo vệ có nhiều vết nứt theo một hướng, mái nhà lò dột". Chưa kể, chỉ số phóng xạ trong lò rất cao, có chỗ gấp 1.000 lần so với mức cho phép làm việc!
Trong ánh đèn vàng mờ tỏ tại phòng khách nhà số 30 Hoàng Diệu vào một đêm tháng 4/1976, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đưa ra quyết định: "Việc quan trọng và cấp bách nhất hiện nay là khôi phục lò phản ứng Đà Lạt. Anh Tứ [GS Nguyễn Đình Tứ] bận việc Bộ ở Hà Nội, nên tôi và các anh trong Chính phủ đề nghị anh Hiển phải lo việc này là chính..."
Từ câu nói ấy mở ra một chương mới của ngành hạt nhân Việt Nam. Chỉ ít ngày sau, vào ngày 26/4/1976, Viện Nghiên cứu hạt nhân (Đà Lạt) chính thức được thành lập, trực thuộc Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước. Một viên gạch được đặt xuống, là điểm tựa xuyên suốt sinh mệnh ngành hạt nhân đất nước.
Giải quyết vấn đề kỹ thuật là một chuyện, trước mắt cần giải bài toán ngoại giao phức tạp nếu muốn hồi sinh lò. Lúc bấy giờ, Việt Nam chưa ký Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT). Để nhận được hỗ trợ từ Liên Xô, Việt Nam buộc phải ký Hiệp định Bảo đảm với IAEA nhằm chứng minh không dùng lò phản ứng cho mục đích quân sự.
Dự thảo do IAEA đưa ra có 21 điều thì 19 điều Việt Nam không đồng ý. Vì vậy Chính phủ thành lập bốn tiểu ban chuyên trách (Kỹ thuật, Pháp lý, Đối ngoại, An ninh) để đàm phán, giao cho GS. Nguyễn Đình Tứ và ông Võ Đông Giang phụ trách. Công tác nghiên cứu của đoàn kéo dài 3 tháng, hoàn thành một khối lượng công việc chuyên môn được GS. Nguyễn Đình Tứ đánh giá là "xứng đáng trao bằng Phó tiến sĩ về kỹ thuật và pháp quy hạt nhân!". Trưởng đoàn đàm phán tại Vienna (Áo) là Đại sứ Việt Nam tại Pháp Võ Văn Sung, một nhà ngoại giao lão luyện.
Đoàn Đại biểu Việt Nam dự Đại hội đồng IAEA tại Vienna, Áo, 1978.
Một trong những vấn đề gay cấn nhất của cuộc đàm phán là IAEA muốn kiểm soát cả thông tin thu được từ lò Đà Lạt; phía Việt Nam phản đối, vì điều đó có thể mở rộng thành sự kiểm soát đối với toàn bộ Việt Nam. Trước nỗi e ngại của IAEA, ông Võ Văn Sung đã so sánh: "Lò Đà Lạt là ‘chaton’ - con mèo con, các ông đừng đối xử với nó như con hổ, chứng minh là mỗi năm chạy hết công suất, nếu lấy hết cũng chỉ được có 19 gam Plutonium, chạy cả hàng trăm năm mới làm được quả bom nguyên tử à!" Vụ trưởng đối ngoại, Trưởng đoàn phía IAEA, Hertzig bảo: "Nếu không cẩn thận thì nó sẽ lớn thành con hổ đó!" Ông Võ Văn Sung trả lời ngay "Thế thì ông sai với học thuyết tiến hóa của Darwin rồi! - Con mèo không thể biến thành con hổ".
Ròng rã một tháng, tối nào cả đoàn cũng họp thảo luận đến tận khuya. Những tưởng xôi hỏng bỏng không, nhưng rồi trước giờ phái đoàn Việt Nam lên đường về nước đúng vài tiếng đồng hồ, Hiệp định Bảo đảm giữa Việt Nam và IAEA đã được ký kết thành công, tạo ra hành lang pháp lý duy nhất và quyết định để lò phản ứng Đà Lạt được phép tiếp tục khôi phục và mở rộng.
Khó khăn chồng chất
Bản Hiệp định mở đường cho Việt Nam nhận sự hỗ trợ công nghệ từ Liên Xô làm lò hạt nhân Đà Lạt sống lại.
Từ trước đó, GS Nguyễn Đình Tứ đã giao cho GS Phạm Duy Hiển, chuyên gia vật lý hạt nhân, trọng trách "Tổng công trình sư" Công trình Khôi phục và mở rộng lò phản ứng Đà Lạt.
Trình bày kế hoạch nghiên cứu tình trạng kỹ thuật của Lò phản ứng Đà Lạt (1977). Từ phải sang: TS. Phạm Quốc Trinh, PGS. TS Nguyễn Nguyên Phong, GS. TS Phạm Duy Hiển, PGS. TS Nguyễn Hữu Xý, PGS. TS Nguyễn Mộng Sinh, tiếp theo là các cán bộ ngành xây dựng.
Dù Liên Xô đã đồng ý giúp Việt Nam khôi phục lò phản ứng Đà Lạt, là một trong chín công trình hợp tác trọng điểm được ký kết giữa hai chính phủ, nhưng khôi phục lò phản ứng không đơn giản như những công trình dân dụng khác. Công nghệ lò phản ứng của Liên Xô và Mỹ rất khác nhau, khác từ nguyên lý hoạt động đến bản chất vật lý của nhiên liệu, mà nhiên liệu là trái tim của lò phản ứng.
GS Phạm Duy Hiển sau này hồi tưởng ngày ông nhận được lệnh trực tiếp từ Phó Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng Trần Quỳnh yêu cầu ghé Ủy ban Năng lượng nguyên tử (UBNLNT) Liên Xô tại Moskva ký duyệt "Nhiệm vụ thiết kế" cho công trình cải tạo và nâng cấp lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt: "Tôi rời khỏi trụ sở được canh gác hết sức nghiêm ngặt của UBNLNT Liên Xô mà lòng nặng trĩu. Lững thững một mình trên đại lộ Lê-nin đến đoạn vắt ngang qua sông Moskva óng ánh dưới nắng chiều và tòa tháp Đại học Lômônôxốp hiện lên trên nền trời, tôi chợt nhận ra gánh nợ nặng nề trên vai mình và các đồng nghiệp - một ngành khoa học công nghệ hạt nhân của đất nước đang ở phía trước."
Sát cánh cùng ông khi ấy là những đồng nghiệp ưu tú về chuyên môn lẫn phẩm chất, được đào tạo nhiều năm ở Liên Xô và Pháp, có điều không ai trong số đó được học chuyên sâu về lò phản ứng - một công nghệ nhạy cảm.
Cơ sở hạt nhân cũ với lò TRIGA Mark II do hãng General Atomic (Mỹ) chế tạo chỉ còn khối bê tông bao bọc thùng lò và vòm nhà tròn xinh xắn do KTS Ngô Viết Thụ thiết kế. Khi bắt tay vào công đoạn Thẩm định thiết kế, các nhà khoa học đối mặt với rất nhiều khó khăn: công suất 250 kW của lò cũ quá nhỏ; vị trí đặt lò lại ở xa các trung tâm KHCN hiện thời của đất nước; phải thay nhiên liệu theo công nghệ cũ bằng nhiên liệu tiêu chuẩn của Liên Xô vốn theo công nghệ khác, đồng nghĩa với việc phải đổi hầu như toàn bộ thiết bị công nghệ.
Khi Viện sĩ G. N. Flerov đến thăm lò phản ứng Đà Lạt, ông đã trèo lên cao xem xét lò và nhận định lò mới sắp được cải tạo sẽ không thể đưa công suất lên 1.000 kW, như GS Phạm Duy Hiển mong muốn. "Vấn đề của các anh giờ đây là nhanh chóng khôi phục lò và tập hợp đội ngũ khoa học để khai thác nó, chứ không phải là xây một lò mới hoàn toàn với công suất quá lớn", Viện sĩ Flerov khuyên.
Sau khi tháo dỡ những bộ phận cũ chắc chắn không còn dùng được để mở đường xuống đáy lò, các nhà khoa học nhận thấy phóng xạ cobalt-60 dưới đáy vẫn còn cao. Đáng lo hơn, họ phát hiện nhiều vết rỉ màu đỏ dưới đáy lò; thùng lò bị méo, bị nghiêng; vành phản xạ graphite cũng nghiêng lệch; mái nhà lò dột; trên tường bê tông bảo vệ xuất hiện những vết nứt dài. Với một công trình hạt nhân, chỉ một sai lệch nhỏ trong thùng lò, vùng hoạt hay hệ điều khiển cũng có thể ảnh hưởng đến an toàn vận hành sau này.
Lúc sinh thời, đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần tới lò phản ứng Đà Lạt. Lần đầu, khi nơi này còn là công trường xây dựng lò phản ứng, bốn bề ngổn ngang. Đại tướng muốn đi xem chỗ ăn ở của cán bộ. Khi nhìn vào bàn ăn, Đại tướng lắc đầu: "Ăn thế này thì xây lò làm sao?" Từ đó, chính phủ đã chấp thuận một số chế độ "đặc biệt" giúp cải thiện phần nào đời sống cán bộ của Viện.
Họ phải trăn trở, suy tư trong một hoàn cảnh sống đầy rẫy khó khăn, ăn cơm độn hạt bo bo. Ngay cả khi đã xin được gạo, các chuyên gia cũng cân nhắc đong sao cho đủ ăn những bữa còn lại trong tháng. Giữa muôn vàn khó khăn, giấc mơ về lò phản ứng, rộng ra hơn là về ngành năng lượng nguyên tử của Việt Nam ngày càng định hình chín muồi.
Lai ghép giữa hai công nghệ Mỹ và Nga
Chính trong quá trình khảo sát ấy, các chuyên gia Liên Xô dần được các nhà khoa học Việt Nam thuyết phục, chuyển từ ý tưởng "khôi phục" sang "khôi phục và mở rộng". Nếu chỉ trả lại lò như cũ, Việt Nam sẽ có một lò nhỏ 250 kW, ít thiết bị khai thác, khó phục vụ nghiên cứu và ứng dụng.
Ban đầu, các chuyên gia Liên Xô tính đến việc dùng nhiên liệu IRT tiết diện vuông để đặt vào vành phản xạ graphite cũ của lò TRIGA. Nhưng khi đi vào thiết kế, phương án này được thay bằng các bó nhiên liệu WWR-M2 tiết diện lục giác. Đây là thay đổi quan trọng. Cấu hình bó lục giác giúp trường neutron phân bố đều hơn, linh hoạt hơn khi lắp đặt và vận hành, đồng thời phù hợp với thiết kế vùng hoạt mới. Vùng hoạt của lò Đà Lạt sau cải tạo gồm 92 bó nhiên liệu lục giác WWR-M2, cùng nhiều thanh beryli được chèn vào để tăng cường phản xạ và làm lợi neutron. Lò vẫn tải nhiệt bằng nước thường theo cơ chế đối lưu tự nhiên; các tính toán thủy nhiệt cho thấy cơ chế này đủ bảo đảm công suất 500 kW mà không làm sôi bề mặt thanh nhiên liệu.
Đưa thiết bị siêu âm xuống để nghiên cứu tình trạng kỹ thuật của bề mặt trong thùng lò.
Bài toán dành cho các chuyên gia lúc bấy giờ xoay quanh một hệ thiết kế mới, với vùng hoạt, nhiên liệu, cách bố trí neutron, các tính toán an toàn, hệ thống công nghệ... - tất cả đều mới, và phải đặt lọt trong phần hạ tầng Mỹ còn lại.
Công nghệ Mỹ và Liên Xô vốn đã khác nhau, lò cũ lại nhiều hỏng hóc. Để xử lý, Liên Xô đã đưa ra một giải pháp đó là thiết kế thêm một thùng nhôm mới, nhỏ hơn, không có đáy, treo bên trong thùng lò Mỹ. Vùng hoạt và vành phản xạ graphite mới được treo dưới thùng nhôm này, nhờ đó vẫn bảo đảm thẳng đứng dù thùng lò cũ bị nghiêng. Vì vậy, lò Đà Lạt hiện có tới hai lớp "thùng lò" - một đặc điểm gần như không nơi nào có.
Ngày 15/3/1982, Công trình Khôi phục và Mở rộng lò phản ứng được khởi công. Ngày 1/11/1983, lò đạt trạng thái tới hạn lần đầu với tên mới IVV-9. Ngày 20/3/1984, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt chính thức vận hành ở công suất 500 kW, gấp đôi lò TRIGA cũ.
Vào thời khắc lò phản ứng hạt nhân Đà lạt đạt trạng thái tới hạn, tất cả các thành viên trong nhóm khởi động lò và rất nhiều cán bộ của Viện còn ở lại đều có mặt tại phòng điều khiển lò phản ứng. Tiếng reo "hoan hô" xen lẫn tiếng "ura" đầy ắp căn phòng.
Mọi người có mặt trong phòng điều khiển lúc đó lần lượt ký tên vào tờ giấy cắt ra từ máy tự ghi diễn biến công suất lò và bản đồ nạp các thanh nhiên liệu trong vùng hoạt.
Đồ thị diễn biến công suất lò, trục hoành là trục thời gian còn trục tung là công suất trong đơn vị tương đối. Ta thấy công suất dao động quanh một giá trị trung bình rồi sau đó dừng lại ở một giá trị không đổi theo thời gian. Đó là trạng thái tới hạn của lò. Các chữ ký nằm trong miền không đổi đó của đồ thị, khi lò ở trạng thái tới hạn. Ảnh: GS. Ngô Quang Huy/NRI
Bản đồ nạp nhiên liệu của vùng hoạt đạt trạng thái tới hạn với 69 thanh nhiên liệu đã được nạp ngày 1.11.1983. Các chữ ký nằm quanh vùng hoạt của lò có dạng hình tròn. Ảnh: GS. Ngô Quang Huy/NRI
Học để làm và làm để học
Sau những tiếng u ra và sâm banh nổ giòn trong ngày khánh thành là những đêm dài trằn trọc của GS Phạm Duy Hiển. Đất nước lúc này lại đang trải qua thời kỳ khốn khó nhất. Cơn bão "giá, lương, tiền" ập vào hai bữa ăn hằng ngày, thiết bị linh kiện nghiên cứu khoa học không sao mua được do chính sách cấm vận của Hoa Kỳ. "Chả lẽ, tốn ngần ấy tiền của và công sức chỉ để hằng ngày thắp lên và chiêm ngưỡng ngọn lửa xanh óng ánh qua sáu mét nước trong suốt dưới đáy lò thôi ư?" - ông tự hỏi.
Mục tiêu đặt ra trước mắt của Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt là trong một thời gian ngắn nhất phải thử nghiệm tất cả những gì mà một lò phản ứng hạt nhân công suất tương đối thấp có thể làm được, qua đó xây dựng đội ngũ, nâng cao trình độ để hướng đến những mục tiêu lâu dài hơn là điện hạt nhân.
Vậy là Viện bước vào thời kỳ tự học khắc nghiệt. Phương châm của họ là "học để làm, làm để học". Thiếu thiết bị thì tự thiết kế. Thiếu linh kiện thì tìm mua, tận dụng, lắp ráp. Thiếu thầy thì học từ tài liệu, từ chuyên gia quốc tế, từ chính những lần thử và sai. Có lúc, nhà khoa học đi hội nghị nước ngoài còn tranh thủ mua linh kiện ở chợ mang về cho phòng điện tử hạt nhân lắp máy đo phổ phóng xạ.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng (người tóc bạc đứng giữa, hàng trước) và ông Tám Cảnh, Chủ tịch UBND Tỉnh Lâm Đồng (đứng bên phải Thủ tướng), thăm cán bộ Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Bên trái Thủ tướng là ông Phạm Duy Hiển, bên phải ông Tám Cảnh là ông Phạm Khắc Chi. Ảnh: GS. Ngô Quang Huy/NRI
Từ những nghiên cứu trong điều kiện hết sức sơ khai như vậy, nhiều ứng dụng kỹ thuật hạt nhân đã được triển khai trên nhiều lĩnh vực, từ xuất khẩu nông sản đến sản xuất đồng vị phóng xạ y tế. Viện đã nghiên cứu và điều chế thành công khoảng 30 chủng loại đồng vị phóng xạ và dược chất đánh dấu dùng trong y tế, trong đó có I-131, P-32, Tc-99m và nhiều kit in-vivo, in-vitro. Các sản phẩm này phục vụ y học hạt nhân, từ chẩn đoán đến điều trị một số bệnh, góp phần đáp ứng nhu cầu trong nước trong bối cảnh Việt Nam vẫn phải nhập khẩu phần lớn dược chất phóng xạ.
Ngoài y tế, Viện còn phát triển hệ phương pháp phân tích phục vụ địa chất, dầu khí, môi trường, nông nghiệp và xuất khẩu nông sản; trong 30 năm đã phân tích trên 77.000 mẫu. Ở lĩnh vực sinh học và công nghệ bức xạ, Viện ứng dụng bức xạ gamma để tạo giống cây trồng, hoa mới; đồng thời nghiên cứu, chuyển giao công nghệ nuôi trồng một số loại nấm dược liệu, nấm thực phẩm. Viện cũng là một đầu mối quan trọng trong quan trắc môi trường, với gần 17.000 mẫu môi trường được thu thập, phân tích và lưu trữ đến cuối năm 2013, đồng thời phát triển dịch vụ đánh giá tác động môi trường và các ứng dụng đồng vị trong nghiên cứu xói mòn, bồi lắng, tài nguyên đất - nước.
Các nhân viên theo dõi các thông số vận hành tại bàn điều khiển trung tâm lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Ảnh: Trường Hà
Nhân viên Viện nghiên cứu hạt nhân đo nồng độ phóng xạ ở miệng lò phản ứng. Ảnh: Trường Hà
Năm năm trước, trong đại dịch COVID, lò phản ứng công suất 500 kwt này đã gồng mình vận hành để liên tiếp tạo ra những mẻ dược chất phóng xạ cho các cơ sở y học hạt nhân trên cả nước, bởi rất nhiều bệnh nhân ung thư không thể ra nước ngoài khám chữa bệnh do việc áp dụng biện pháp ngừng đi lại kiểm soát dịch bệnh. "Lò đã vận hành khoảng 4.300 giờ trong năm 2020, gấp gần ba lần trung bình nhiều năm trước đây là 1.500 giờ (nếu tính giờ đi làm theo chế độ làm việc hiện hành, mỗi cán bộ viên chức chỉ làm việc gần 2.000 giờ/năm)", TS. Phan Sơn Hải, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) trao đổi với Tia Sáng vào đầu năm 2021.
"Hiện nay, đội ngũ cán bộ của Viện đã làm chủ hoàn toàn công tác bảo dưỡng, sửa chữa Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt; có năng lực nội địa hóa hệ điều khiển của lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu; làm chủ các chương trình tính toán, phân tích an toàn; đồng thời có thể tham gia tính toán thiết kế và phân tích an toàn cho lò phản ứng hạt nhân và nhà máy điện hạt nhân", PGS.TS Nguyễn Xuân Hải, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân, chia sẻ.
Lò phản ứng hạt nhân thiết kế hai tầng, hai bên được bố trí cầu thang dẫn lên miệng lò. Xung quanh được bố trí các ống cỡ lớn lấy không khí bên ngoài vào; xả ra sau khi được xử lý với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Ảnh: Trường Hà
Năng lực ấy đang đứng trước một phép thử mới. Dự án Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Công nghệ Hạt nhân, được triển khai trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ KH&CN Việt Nam và Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử Quốc gia Nga Rosatom, được kỳ vọng sẽ mở ra một chương tiếp theo cho ngành hạt nhân Việt Nam. Trọng tâm của dự án là một lò phản ứng nghiên cứu mới, công suất cao hơn, đa chức năng hơn, đủ sức đáp ứng những nhiệm vụ mà lò Đà Lạt hiện nay, dù vận hành hiệu quả, đã bắt đầu chạm tới giới hạn.
Nếu được xây dựng và khai thác đúng hướng, trung tâm mới không chỉ giúp Việt Nam chủ động hơn về dược chất phóng xạ cho y tế, giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, mà còn tạo nền tảng cho các nghiên cứu vật lý hạt nhân, vật liệu, chiếu xạ, phân tích kích hoạt, an toàn hạt nhân và đào tạo nhân lực trình độ cao. Đây sẽ là nơi thế hệ kỹ sư, nhà vật lý, chuyên gia an toàn và vận hành hạt nhân tương lai được tiếp xúc với một hạ tầng hiện đại hơn, trước khi Việt Nam bước sâu hơn vào chương trình điện hạt nhân.
Chuẩn bị dung dịch trong phòng sạch ở công đoạn sản xuất dược chất đánh dấu chứa đồng vị phóng xạ ở dạng đông khô pha tiêm. Ảnh: Trường Hà
Trong bối cảnh điện hạt nhân được khởi động trở lại, vai trò của Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt vì thế không khép lại cùng quá khứ. Ngược lại, kinh nghiệm vận hành an toàn, bảo dưỡng, phân tích an toàn, đào tạo thực hành và nội địa hóa thiết bị của Viện đang trở thành vốn liếng quan trọng cho giai đoạn mới. "Viện Nghiên cứu hạt nhân tiếp tục tham gia hỗ trợ một số cơ sở đào tạo trong việc xây dựng chương trình, tăng cường năng lực thực hành phục vụ huấn luyện và đào tạo nguồn nhân lực hạt nhân. Viện cũng tham gia một số nhiệm vụ liên quan đến nội địa hóa thiết bị trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Đồng thời, theo yêu cầu của Bộ/Ngành, Viện đang nghiên cứu, xây dựng đề án nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.", PGS. Nguyễn Xuân Hải cho biết.
Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt hôm nay vẫn tọa lạc giữa lòng thành phố cao nguyên mờ sương, giữa tiếng thông reo và những triền dốc yên ả. Cảnh cũ còn đây, nhưng thời gian đã đi qua trên từng lớp người.
Giờ đây, những thế hệ nhà khoa học trẻ đang tự tin bước ra thế giới. Họ đang nối tiếp con đường bắt đầu từ những bước đi thận trọng, gian nan của nhiều thập kỷ trước. Đó là thời kỳ mà GS. Phạm Duy Hiển từng chiêm nghiệm: "Mọi người, từ trên xuống dưới, đều tự đào tạo mình để trưởng thành".
Một trong những thành công lớn nhất của Viện là đào tạo được một đội ngũ có thể làm chủ lò phản ứng hạt nhân và các công nghệ liên quan.
Riêng giai đoạn 2004–2026, Viện đã phục vụ khoảng 61.099 lượt người học, học viên, sinh viên và khách tham quan/chuyên môn, tương ứng với 1.145 khóa, đoàn hoặc lượt hoạt động. Trong đó có 196 lượt học viên cao học, 3.212 lượt sinh viên thực tập, 2.253 lượt học viên huấn luyện chuyên môn, 43.391 lượt tham quan, phổ biến ứng dụng năng lượng nguyên tử và 12.047 lượt tham gia các khóa/đợt đào tạo hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ.
Giai đoạn 2023–2025, Viện tiếp tục tổ chức 144 hoạt động với 5.613 lượt người tham gia.
Riêng năm 2025, Viện đã tổ chức 03 hoạt động đào tạo, bồi dưỡng liên quan đến điện hạt nhân với 141 lượt học viên. Đầu năm 2026, Viện tiếp nhận thêm 187 lượt tham quan, 75 lượt sinh viên/học viên thực tập, học chuyên đề và 36 lượt học viên huấn luyện chuyên môn. Các số liệu này cho thấy nhu cầu sử dụng cơ sở đào tạo, giảng đường, phòng thực hành và không gian hội thảo của Viện là thường xuyên, liên tục và có xu hướng tăng.
Tài liệu tham khảo:
Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt: Khoảng giao thời giữa hai công nghệ Mỹ và Nga. Tia Sáng, 12/11/2022. https://tiasang.com.vn/lo-phan-ung-hat-nhan-da-lat-khoang-giao-thoi-giua-hai-cong-nghe-my-va-nga-4970032.html
Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt trong Covid-19: Những điều tưởng chừng không thể. Tia Sáng, 12/2/2021. https://tiasang.com.vn/vien-nghien-cuu-hat-nhan-da-lat-trong-covid-19-nhung-dieu-tuong-chung-khong-the-4972099.html
Lò phản ứng Đà Lạt: Trước ngày khôi phục. Tia Sáng, 30/4/2020. https://tiasang.com.vn/lo-phan-ung-da-lat-truoc-ngay-khoi-phuc-4972857.html
Bí mật ít biết về lò phản ứng Đà Lạt. Tia Sáng, 28/4/2020. https://tiasang.com.vn/bi-mat-it-biet-ve-lo-phan-ung-da-lat-4972859.html
Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt: Lò phản ứng nghiên cứu và ứng dụng hiệu quả. Tia Sáng, 5/4/2019. https://tiasang.com.vn/vien-nghien-cuu-hat-nhan-da-lat-lo-phan-ung-nghien-cuu-va-ung-dung-hieu-qua-5021362.html
Những năm đầu xây dựng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt. Tia Sáng, 21/3/2019. https://tiasang.com.vn/nhung-nam-dau-xay-dung-vien-nghien-cuu-hat-nhan-da-lat-5021197.html
30 năm Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt: Những thành tựu. Tia Sáng, 5/3/2014. https://tiasang.com.vn/30-nam-lo-phan-ung-hat-nhan-da-lat-nhung-thanh-tuu-4978359.html
Sao để họ đứng ngoài cuộc? Tia Sáng, 1/4/2009. https://tiasang.com.vn/sao-de-ho-dung-ngoai-cuoc-4982472.html
Những ngày khôi phục và mở rộng Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. NRI, 21/3/2023. https://nri.gov.vn/nhung-ngay-khoi-phuc-va-mo-rong-lo-phan-ung-hat-nhan-da-lat.html