Đó là ước lượng từ mô hình tính toán, dựa trên dữ liệu về thành phần hợp kim và trọng lượng tiền cổ do nhóm của ThS Lê Cảnh Lam, Viện Khảo cổ học, thực hiện. Điểm đáng chú ý là thứ tự giá kim loại này trái với cách hình dung phổ biến ngày nay.
Các mẫu tiền Cảnh Hưng. Ảnh: Nhóm nghiên cứu cung cấp
Nếu xác định được giá kim loại trong quá khứ, các nhà nghiên cứu sẽ hiểu rõ hơn chi phí đúc tiền và bối cảnh kinh tế đương thời.
Tuy nhiên, sử liệu không ghi chép đầy đủ giá kim loại trong suốt chiều dài lịch sử. Với những giai đoạn không có dữ liệu trực tiếp, làm thế nào để ước tính giá kim loại được sử dụng trong tiền cổ đã lưu hành cách đây mấy trăm năm?
Để tìm câu trả lời, ThS Lê Cảnh Lam và nhóm nhà nghiên cứu ở Viện Khảo cổ học đề xuất áp dụng phương pháp toán học mang tên tối ưu hóa hệ số biến thiên tối thiểu (MCVO), nhằm ước tính giá tương đối của các kim loại từ thành phần hợp kim và trọng lượng tiền cổ.
Phương pháp này dựa trên giả định rằng các loại tiền cùng lưu thông có giá trị kim loại thành phần không chênh lệch nhau quá lớn. Từ trọng lượng và tỷ lệ các kim loại trong từng đồng tiền, nhóm tính giá trị nguyên liệu theo nhiều kịch bản giá khác nhau, sau đó chọn lấy cách tính cho kết quả giá trị nguyên liệu giữa các đồng tiền gần nhau nhất.
Kim loại nào từng có giá nhất - đồng, kẽm, chì hay thiếc?
Để đối chiếu kết quả tính toán với sử liệu, nhóm sử dụng nguồn sử liệu còn sót lại ghi chép giá kim loại năm 1811 được ghi lại trong Đại Nam thực lục làm hệ quy chiếu: 100 cân đồng đỏ có giá 35 quan; kẽm - 30 quan; chì - 11,5 quan; và thiếc - 24 quan. Với công thức đúc tiền năm 1820 gồm 49% đồng, 45% kẽm và 6% chì, giá trị nguyên liệu tính theo bảng giá này là 31,34 quan/100 cân (mỗi cân bằng 0,6kg).
Cũng theo Đại Nam thực lục, năm 1820, cứ 100 cân nguyên liệu theo công thức trên thì đúc được 37,8 quan tiền. Sau khi trừ chi phí đúc, nhóm ước tính giá trị nguyên liệu vào khoảng 32,247 quan/100 cân. Mức này chỉ chênh khoảng 2,8% so với kết quả tính theo bảng giá năm 1811.
Tiếp tục áp dụng bảng giá năm 1811 cho 17 công thức đúc tiền được ghi nhận trong giai đoạn 1814-1889, nhóm tính được giá trị nguyên liệu trung bình khoảng 33,06 quan/100 cân. Mức này chỉ chênh khoảng hơn 2,3% so với bảng giá năm 1811. Kết quả cho thấy giá trị nguyên liệu tính theo các công thức tương đối tập trung, đồng thời khá gần với mốc suy ra từ ghi chép lịch sử năm 1820.
Tiếp đó, nhóm áp dụng phương pháp để ước tính tương quan giá kim loại trong tiền Cảnh Hưng thời Lê Trung Hưng (1740-1786), giai đoạn thiếu ghi chép trực tiếp về giá kim loại. Nhóm cân và phân tích thành phần hợp kim của 25 mẫu tiền bằng phương pháp huỳnh quang tia X (XRF), sau đó loại trừ một mẫu có trọng lượng bất thường và sử dụng 24 mẫu còn lại để khảo sát mối tương quan giữa trọng lượng với hàm lượng từng kim loại. Kết quả cho thấy hàm lượng thiếc có xu hướng tăng theo trọng lượng đồng tiền, trong khi hàm lượng kẽm có xu hướng giảm. Quy đổi giá đồng về mức 1, tương quan giá giữa đồng, kẽm, chì và thiếc lần lượt là 1 : 1,17 : 0,93 : 0,33.
Như vậy, theo kết quả mô hình, kẽm thời Cảnh Hưng có thể đắt hơn đồng, chì có giá gần tương đương đồng, còn thiếc chỉ bằng khoảng một phần ba giá đồng. Tuy nhiên, đây là tương quan giá ước tính từ kịch bản phù hợp nhất trong số các phương án được khảo sát, không phải giá lịch sử được ghi nhận trực tiếp trong sử liệu.
Đồng Cảnh Hưng Thông Bảo (1740-1753). Ảnh: Nhóm nghiên cứu cung cấp
Thêm một cơ sở đánh giá hiện vật lịch sử
Theo ThS Lê Cảnh Lam, việc xác định được giá kim loại cổ giúp cho việc nhận định giá trị của hiện vật lịch sử chính xác hơn trong thời đại của nó.
Ông lấy ví dụ, thiếc thời Nguyễn có giá bằng khoảng hai phần ba giá đồng, trong khi ngày nay thiếc có thể đắt gấp ba lần đồng.
Với tương quan giá như vậy, những đồ vật làm từ hợp kim chứa thiếc không nhất thiết là sản phẩm xa xỉ. "Nếu lấy tư duy ngày nay để nhìn về các hiện vật cổ, người ta dễ cho rằng các loại đồ thiếc là đồ quý tộc. Nhưng nếu xác định giá thiếc còn rẻ hơn cả đồng vào thời đó thì chúng ta lại thấy đây không phải hợp kim quý tộc nữa mà lại là đồ rẻ, bình dân", ông cho biết.
Việc xác định được giá kim loại còn có thể giúp hiểu thêm về những biến động kinh tế xã hội như biến đổi chuỗi cung ứng, chiến tranh nếu giá bị tăng giảm đột ngột. "Việc so sánh giá giữa các nước có thể giúp hiểu rõ hơn về sự giao lưu thương mại hay là lý do chiến tranh cướp tài nguyên, đồng thời cũng có thể giúp chúng ta thể tìm hiểu thêm về khủng hoảng kinh tế khi giá tiền bị bất hợp lý dẫn đến nạn buôn tiền, nạn đúc tiền ồ ạt như trường hợp nạn đúc tiền kẽm thời chúa Nguyễn", nhà nghiên cứu Lê Cảnh Lam cho biết.
Theo nhóm nghiên cứu, phương pháp toán học mà nhóm áp dụng có thể cung cấp khung định lượng để kết nối ba lớp chứng cứ: giá kim loại trong sử liệu; công thức đúc và chi phí công liệu; cũng như thành phần và trọng lượng tiền cổ phân tích bằng phương pháp phân tích thành phần nguyên tố hóa học phổ biến trong phòng thí nghiệm XRF/ICP-MS.
"Nếu mở rộng dữ liệu sang các triều đại khác và kết hợp trọng lượng thực tế của mẫu tiền, phương pháp này có thể trở thành công cụ nghiên cứu kinh tế nguyên liệu, công nghệ luyện kim và chính sách tiền tệ, trong khảo cổ học", nhóm nghiên cứu viết trong báo cáo đề tài.
Triển vọng tái dựng hệ thống bảng giá kim loại trong hơn 2000 năm lịch sử
Đây là một ý tưởng nghiên cứu rất thú vị, theo TS Nguyễn Văn Anh - Trưởng Khoa Lịch sử kiêm Giám đốc Bảo tàng Lịch sử và Văn hóa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tuy nhiên, ông lưu ý cần phân biệt giá trị kim loại với giá trị của đồng tiền trong nền kinh tế. Từ xưa đến nay, giá trị của tiền không nhất thiết được xác định bằng giá trị nguyên liệu dùng để tạo ra nó. "Tiền đóng vai trò là vật ngang giá, và giá trị của nó không đơn thuần nằm ở vật liệu cấu thành", ông nhận xét.
Chẳng hạn, nếu xét về nguyên liệu, nhựa dùng để sản xuất tiền polymer hiện nay không có giá trị quá lớn, tương tự, giấy dùng để sản xuất tiền trước đây cũng không đáng bao nhiêu. Điều quan trọng nhất là giá trị biểu trưng của đồng tiền - điều gắn với uy tín của chính phủ và các triều đại. "Tiền được lưu thông dựa trên giá trị mà các bên thừa nhận, chứ không chỉ dựa vào nguyên liệu làm ra nó", ông nhận định.
Từ góc nhìn này, TS Nguyễn Văn Anh cho rằng khi nghiên cứu tiền cổ, cần xem xét thêm bối cảnh kinh tế - xã hội và cơ chế lưu thông tiền tệ thay vì chỉ dựa vào thành phần vật liệu để giải thích giá trị của đồng tiền.
Về vấn đề giá trị đồng tiền và giá vật liệu cấu thành, ThS Lê Cảnh Lam cho biết trong lịch sử tiền tệ cũng có một số khoảng thời gian ngắn ngủi tiền xu được đúc với giá trị pháp định mà không căn cứ theo giá trị kim loại ví dụ như thời Vương Mãn (9SCN-24SCN) đúc các đồng xu và tiền hình quần và hình tròn đề mệnh giá Đương Thiên, Nhất Bách, Ngũ Thập tương đương với 1000, 100, 50 đồng tiền đương thời. Thời Tam Quốc có đúc tiền Thái Bình bách tiền (tương đương 100 đồng), thời Hồ có in tiền giấy có các mệnh giá cao khác nhau, thời Tự Đức (Việt Nam, 1853,1854, 1861, 1865) đúc tiền Tự Đức bản sao, Lục văn, thất văn và Hàm Phong (Trung Quốc, 1853, 1854) đúc tiền đương thập, đương ngũ thập, đương bách có mệnh giá pháp định lớn.
Tuy nhiên đây chỉ là những khoảng thời gian ngắn ngủi vài năm đến hơn chục năm. Còn lại suốt chiều dài lịch sử thì tiền vẫn mang giá trị của vật liệu kim loại. Giai đoạn mà nhóm thực hiện nghiên cứu là thời kỳ tiền xu được đúc từ kim loại, do đó có sự khác biệt nhất định khi so sánh với tiền giấy và polymer hiện nay - thời điểm đã có hệ thống ngân hàng và cơ chế quản lý tiền tệ. Trong lịch sử, giá trị vật liệu vẫn là một cơ sở quan trọng để giải thích vì sao các loại tiền khác nhau có thể được chấp nhận trong giao dịch.
Nghiên cứu của nhóm tập trung vào giá trị vật liệu của tiền kim loại, chứ không đồng nhất đại lượng này với giá trị lưu thông của đồng tiền. Theo ông, việc các loại tiền cùng lưu hành có giá trị vật liệu tương đối tương đương là một giả định được sử dụng để xây dựng mô hình tính toán.
"Để hệ thống tiền tệ ổn định, các loại tiền cùng lưu thông cần có giá trị tương đối tương đương. Đó chính là cơ sở để tôi xây dựng các kịch bản giả định trong nghiên cứu", ông giải thích. "Hy vọng nghiên cứu này đóng góp một phương pháp luận mới có thể tái dựng hệ thống bảng giá kim loại theo suốt chiều dài hơn 2000 năm lịch sử Việt Nam và quốc tế".