Theo Ngân hàng Thế giới (WB), mặc dù Việt Nam đã có nhiều tiến triển về phát triển năng lượng tái tạo nhưng nền kinh tế vẫn phát thải tương đối mạnh. Lượng khí thải theo đầu người của Việt Nam chỉ ở mức 5,2 tấn CO2 tương đương/đầu người, thấp hơn một chút so với bình quân của các nền kinh tế thu nhập trung bình (5,6 tấn CO2 tương đương/đầu người). Nhưng do còn dựa vào than trong sản xuất năng lượng và các lĩnh vực công nghiệp vẫn thâm dụng năng lượng, tỷ lệ phát thải của nước ta - đo bằng lượng khí thải hiệu ứng nhà kính trên một đơn vị GDP - cao hơn bình quân của các quốc gia thu nhập trung bình ở mức 45,6%. Hơn nữa, khí thải hiệu ứng nhà kính ở Việt Nam đang tiếp tục tăng 6,2%/năm trong thập kỷ qua.
![]() |
Cơ cấu phát thải ở Việt Nam. Nguồn: WB |
Nhiều lợi ích đồng hưởng
Việt Nam đặt mục tiêu phát thải ròng bằng không (Net zero) vào năm 2050. Các ước tính sử dụng mô hình kinh tế vĩ mô của WB trong Báo cáo "Việt Nam 2045 - Tăng trưởng Xanh hơn: Con đường Hướng tới Tương lai Bền vững" công bố ngày 22/05/2025cho thấy chi phí kinh tế của việc chuyển đổi sang Net zero nằm trong khả năng kiểm soát của Việt Nam.
Cụ thể, GDP sẽ giảm 0,02% so với kịch bản cơ sở vào năm 2030, chủ yếu từ tác động của việc giá năng lượng tăng lên do thay đổi về cơ cấu năng lượng, định giá carbon, giảm thu nhập và tiêu dùng của hộ gia đình. Thiệt hại kinh tế có thể tăng theo thời gian, lên đến 2,76% vào năm 2050, nhưng tác động này chưa chắc chắn xảy ra nếu các công nghệ trung hòa carbon tiếp tục phát triển trong tương lai.
Tuy nhiên, khi xét đến những lợi ích tăng thêm như chất lượng không khí được cải thiện, cơ hội việc làm mới trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo hay năng suất lao động tăng, các chính sách giảm phát thải thậm chí sẽ có những tác động kinh tế tích cực.
Báo cáo phân tích, nếu xét đến các lợi ích đồng hưởng, kết quả từ mô hình cho thấy GDP có thể tăng 1,8% so với kịch bản cơ sở vào năm 2030, và 1,4% vào năm 2050, cho thấy tiềm năng đem lại lợi ích kinh tế trong dài hạn của chuyển đổi xanh, thậm chí khi phải đối mặt với những thách thức trước mắt.
![]() |
Tác động của các chính sách giảm nhẹ hiện tại và khử thải carbon tăng tốc đối với GDP theo giá so sánh. Nguồn: WB |
Tăng khả năng cạnh tranh
Báo cáo nhận định các ngành công nghiệp của Việt Nam có thể phải đối mặt với nguy cơ giảm khả năng tiếp cận thị trường và giảm nhu cầu nếu không chuyển đổi sang các phương thức thực hành và sản xuất xanh. Động lực toàn cầu về Net zero sẽ thúc đẩy nhu cầu về các công nghệ và sản phẩm xanh, trong khi các lĩnh vực công nghiệp phát thải lớn có thể phải đối mặt với rào cản trên thị trường quốc tế, đặc biệt với các Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) được ban hành ở các thị trường xuất khẩu chủ lực như Liên minh Châu Âu (EU). CBAM đánh thuế carbon đối với tất cả hàng hóa nhập khẩu vào thị trường các nước thuộc EU dựa trên cường độ phát thải khí nhà kính trong quy trình sản xuất tại nước sở tại. Báo cáo cho biết mặc dù các sản phẩm hiện phải tuân thủ CBAM còn tương đối hạn chế, nhưng nguy cơ của Việt Nam vẫn lớn hơn so với các quốc gia so sánh trong khu vực và dự kiến sẽ tăng lên khi cơ chế CBAM được mở rộng sang các sản phẩm khác.
Ngoài ra, cam kết của các công ty đa quốc gia, như Sáng kiến RE100 về tiêu dùng 100% năng lượng tái tạo cấp độ công ty vào năm 2030, sẽ khiến cho tiếp cận năng lượng sạch trở thành lợi thế cạnh tranh rõ ràng.
Năm 2024, trên một nửa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam - 225 tỷ USD - đến các thị trường chủ lực của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), là nơi các chính sách thương mại khí hậu cấp quốc gia và các cam kết khí hậu cấp độ doanh nghiệp đang làm thay đổi nhu cầu nhập khẩu. Theo giả thuyết xuất khẩu sang các quốc gia OECD giảm 30%, GDP của Việt Nam sẽ giảm 6% so với kịch bản cơ sở không tác động vào năm 2030. Vì vậy, giảm phát thải và sản xuất xanh trở thành yêu cầu thiết yếu để bảo vệ cơ hội xuất khẩu và duy trì tăng trưởng của các ngành công nghiệp trong nước.
Tiềm năng giảm phát thải lớn của ngành năng lượng
Báo cáo dẫn ra ước tính của tổ chức nghiên cứu, tư vấn toàn cầu về lĩnh vực năng lượng sạch Bloomberg New Energy Finance (BNEF) cho thấy, điện mặt trời kết hợp với các hệ thống lưu trữ pin dự kiến có thể cạnh tranh về chi phí với các nhà máy điện than và điện khí mới ở Việt Nam vào cuối thập kỷ này. Ngoài ra, chuyển đổi về quy định, tiêu chuẩn và thông lệ sử dụng năng lượng, và ưu đãi giá được nêu trong các chính sách quốc gia như Quy hoạch Điện 8 (QHĐ8) sẽ dẫn đến chuyển đổi cơ cấu năng lượng hướng tới tỷ lệ năng lượng tái tạo cao hơn.
Đặc biệt, Việt Nam có tiềm năng rất lớn về năng lượng gió và mặt trời ở Đông Nam Á, ước lên đến 1.000 GW mỗi năm, giúp thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đang tìm kiếm các cơ sở sản xuất và dịch vụ xanh, bao gồm các doanh nghiệp chế biến chế tạo trong RE100.
![]() |
Một trong những lợi thế chính của Việt Nam là tiềm năng rất lớn về năng lượng gió và mặt trời ở Đông Nam Á. |
Một thuận lợi nữa là sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân trong các nỗ lực nhằm giảm phát thải và chuyển đổi sang nền kinh tế giảm thải carbon. Chẳng hạn, lĩnh vực điện mặt trời của Việt Nam đã tăng trưởng từ mức gần bằng không vào năm 2017 lên đến 17 GW hiện nay, chủ yếu nhờ sự tham gia của khu vực tư nhân. Ngoài năng lượng tái tạo, khu vực tư nhân cũng đóng vai trò lớn trong việc thúc đẩy tiết kiệm năng lượng và giảm khí thải ở các lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Khử thải carbon công nghiệp, cụ thể trong các lĩnh vực như xi-măng và thép, đòi hỏi tư nhân phải đầu tư lớn vào các quy trình và công nghệ giảm thải carbon như áp dụng các phương thức tiết kiệm năng lượng, chuyển đổi sang nhiên liệu sạch hơn và đầu tư cho những giải pháp thu giữ và lưu trữ khí thải carbon.
Nguồn:
Đinh Hương


