Như 2 lần hội thảo trước đây chúng ta đã thảo luận nhiều về tầm quan trọng của GD SS ở VN, về sự cần thiết phải QT hóa nền GDĐH VN. Tiếp theo chủ đề trên, lần này chúng tôi muốn phân tích sâu hơn và cụ thể hơn về trình tự của quá trình QT hóa nền GD ĐH VN, những giải pháp cụ thể của quá trình này..
Nền GD ĐH VN nói chung 1. Kiểm tra đánh giá lại chất lượng GD đào tạo của từng trường.
2. Tìm hiểu tình hình và chất lượng của các trường đẳng cấp QT, so sánh để thấy rõ mặt mạnh, mặt yếu của trường ĐH VN, tìm cách phát huy hay khắc phục.
3. Đặt lộ trình quốc tế hóa cho ĐH VN bao gồm một số việc cụ thể như: xây dựng trường ĐH đẳng cấp QT, đa dạng hóa liên kết đào tạo QT, chuẩn bị cho SV- GS sẵn sàng hội nhập QT.
Trong nội dung của một bài viết ngắn, chúng tôi xin đi sâu vào nội dung thứ 3, đó cũng là nội dung chính của quá trình quốc tế hóa nền GD ĐH VN.
Theo chiến lược phát triển GD VN 2010-2020, nhà nước ta có kế họach xây dựng 4 trường ĐH đẳng cấp Quốc tế (QT). Đây là một tín hiệu mừng với hy vọng đó sẽ là những đầu tầu kéo cả đòan tầu GD ĐH Việt Nam vươn lên. Tuy nhiên "đẳng cấp QT" không là cái mà trường ĐH tự phong cho mình được mà phải dựa trên sự công nhận của QT. Chúng ta có thể tham khảo bảng phân lọai thứ tự các trường ĐH trên thế giới năm vừa qua sau đó phân tích các yếu tố hình thành nên đẳng cấp QT của một trường ĐH để rút kinh nghiệm cho các trường ĐH VN.
Bảng 1: 20 trường Đại học hàng đầu thế giới, năm 2008
THES ( Times Higher Education Suplement: Phụ trương Thời báo Giáo Dục Đại Học)
SJTU (ShanghaiJiaoTongUniversity: ĐH Giao thông Thượng Hải)
Bảng xếp hạng THES được xây dựng từ năm 2004 với tiêu chí chủ yếu dựa trên danh tiếng của nhà trường qua thăm dò các nhà khoa học QT, kết hợp với các dữ liêu về số lượng GS và SV quốc tế, chất lượng SV, thành tích nghiên cứu được trích dẫn. Bảng xếp lọai SJTU xuất hiện vào năm 2003 thì lại nhấn mạnh vào đội ngũ cán bộ khoa học nổi tiếng (những người đã nhận các giải thưởng QT như Nobel, Fields...), số bài báo QT, số lần được trích dẫn. Ngòai 2 cách xếp hạng trên, còn một tổ chức có uy tín thứ 3 là Webometrics thuộc hội đồng nghiên cứu quốc gia Tây Ban Nha.
Các cách xếp hạng có thể dựa trên những tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên qua nghiên cứu những trường được xếp trong các bảng, người ta có thể nhận xét chung về các yếu tố hình thành nên những trường ĐH đẳng cấp QT hàng đầu như sau:
-Tập trung cao độ nhân tài (sinh viên, giáo viên và cán bộ quản lý xuất sắc)
-Thành tích học tập-giảng dạy và nghiên cứu khoa học cao(chương trình tiên tiến, cơ sở vật chất thí nghiệm hiện đại, nhiều giải thưởng QT, bài báo QT)
-Vai trò quan tâm của chính phủ tới các trường ĐH: tầm nhìn chiến lược, cơ chế quản lý mềm dẻo và khuyến khích tự do học thuật, chính sách động viên và định hướng cho giáo viên, SV theo hướng QT hóa...
Ở đây yếu tố đầu tiên phải là quy tụ nhân tài, đặc biệt là giáo viên và sinh viên. Tranh giành nhân tài dường như đã trở thành một cuộc chiến tranh ở các nước phát triển nhất là tại các trường ĐH hàng đầu.. Trường ĐH Oxford (Anh) vốn xưa nay có truyền thống chỉ dùng những người tốt nghiệp trường mình làm lãnh đạo nhưng trong cuộc chiến tranh giành giật nhân tài này, trường đã bỏ ra 1,25 tỷ Pound ( khỏang 2,5 tỷ USD) cho một chiến dịch thu hút nhân tài thế giới. Năm nay trường sẵn sàng mời Giáo sư Andrew Hamilton, hiệu trưởng trường ĐH Yale nổi tiếng của Mỹ về làm phó chủ tịch nhà trường. Chủ tịch hội đồng quản trị trường Oxford, GS. Lord Patten đã giới thiệu với hội đồng trường rằng GS. Hamilton đã chứng tỏ khả năng lãnh đạo khoa học và GD tuyệt vời của mình ( trường Yale do ông lãnh đạo xếp thứ 2 trên thế giới theo bảng phân lọai của THES), rằng "ông là một sự lựa chọn tuyệt vời để dẫn dắt chúng ta bước vào thập kỷ thứ 2 của thế kỷ 21"[8].
Ngay trong nội bộ một quốc gia như Hoa Kỳ, cuộc chiến tranh nhân tài giữa các trường cũng khá là khốc liệt. Ví dụ một trường ĐH khá nổi tiếng, ĐH Wisconsin thuộcCác trường ĐH đẳng cấp QT cũng hết sức chú ý thu hút các SV tài năng. Ở Trung Quốc, nhà nước cho phép 2 trường ĐH hàng đầu là Bắc Kinh và Thanh Hoa tổ chức tuyển chọn những học sinh xuất sắc nhất trong cả nước (trViệc thu hút nhân tài không chỉ dừng lại với SV trong nước mà còn rất được đánh giá cao nếu trường ĐH có nhiều SV quốc tế. Ví dụ ĐH Columbia có 23% SV QT, Harvard có 19%, Stanfor có 21%, Cambridge 18%. Nếu kể cả giáo viên và cán bộ-nhân viên trong trường thì thành phần QT ở ĐH Harvard là 30%, Cambridge33%, Oxford 36%. Ở nước ta, việc thu hút SV QT còn nhiều khó khăn do trình độ khoa học kỹ thuật của chúng ta còn hạn chế. Với tiêu chí này nếu trường ĐH đẳng cấp QT hiện bắt đầu xây dựng tại Viện Khoa Học VN (Hànội) chỉ với những ngành nghề sẵn có của Viện sẽ khó lòng thu hút được SV QT. Tuy nhiên, để khắc phục điều này chúng tôi cho rằng các trường dự kiến đẳng cấp QT của ta có thể mở thêm những ngành mang bản sắc độc đáo VN, có khả năng thu hút SV QT như Việtnam học, Môi trường nhiệt đới, Văn hóa Đông phương...
Giảng dạy và nghiên cứu khoa học (NCKH) là 2 nhiệm vụ khăng khít của một trường ĐH, đặc biệt với các ĐH bậc cao. Không thể có một đại học "đẳng cấp" mà các giáo sư chẳng có công trình khoa học nào hoặc chỉ có những lý thuyết sáo mòn mà thiếu các minh chứng thực tiễn khoa học. Theo những tiêu chuẩn đánh giá của nhiều tổ chức thì VN chưa có trường nào được xếp vào top 200 , thậm chí 500 .
Ở nước ngòai, nhiều nhà khoa học chỉ đánh giá nền khoa học VN qua các bài báo được công bố trên các tạp chí và họ kết luận rằng về NCKH các trường ĐHVN kém hơn hầu hết các nước trong khu vực. Quả thật đội ngũ giảng viên ĐH hiện nay còn quá thiếu thốn. Số giảng viên có tăng cũng chẳng thấm tháp gì với việc số trường ĐH được tăng một cách chóng mặt như hiện nay. Lo cho việc giảng dạy và "chạy sô" để tăng thu nhập đã gần như choán hết thời gian và sức lực của giảng viên, còn bao nhiêu thì giờ để làm nghiên cứu. Ở một số trường ĐH, công tác NCKH dường như được thực hiện cũng chỉ để lấy thành tích mà thôi vì sau đó it khi được ứng dụng. Tên đề tài cũng thường trùng lặp ở nhiều trường đại học ít được quan tâm. Nói chung giáo viên ta còn rất thiếu thông tin và các nhà quản lý cũng chưa thực sự chú ý đến điều này.
Nói chung để VN có thể xây dựng được 4 trường Đẳng cấp QT trong khỏang trên 10 năm theo kế họach thì thu hút nhân tài cần đặt thành một chiến lược hàng đầu mang tầm cỡ quốc gia và cũng là mục tiêu chiến lược của từng trường. Kết hợp cùng các yếu tố khác như tập trung xây dựng cơ sở vật chất tốt ( kết hợp với viện nghiên cứu và khu công nghệ cao), chọn chương trình tiên tiến, chính sách thông thóang và quan tâm của chính phủ, chắc rằng mục tiêu xây dựng trường đẳng cấp QT, trước hết là trong khu vực, không đến nỗi quá xa vời.
Tuy nhà nước đã có kế họach xây dựng các trường đẳng cấp QT, nhưng trong cơ chế thị trường, tất cả các trường ĐH cùng cạnh tranh để vươn lên thì không ai biết được 10 năm nữa trường nào mới thực sự được đánh giá đạt đẳng cấp QT. Liên kết đào tạo là một cách làm cần thiết và sáng tạo giúp ước mơ đẳng cấp QT của nhiều trường có thể thành hiện thực theo những con đường ngắn nhất.
Dựa trên một số chương trình liên kết quốc tế đã thực hiện ở VN, dựa vào kinh nghiệm của một số nền GD Đông Nam Á, chúng tôi xin đề nghị các dạng liên kết mà các trường ĐH VN có thể tham khảo để hợp tác với nước ngòai như sau
1. Chương trình đôi: là những chương trình mà một phần thời gian SV học ở VN theo chương trình của trường liên kết, phần khác thời gian học ở trường nước ngòai và lấy bằng nước ngòai. Tùy theo hợp đồng liên kết, có thể theo phương án 1+1 cho cao học, 2+1 cho cử nhân theo chương trình các nước hệ Anh như khối liên hiệp Anh, Malaysia, Ấn độ..Hoặc 2+2 cho chương trình cử nhân ở nhiều nước. Chương trình này như một cách du học nước ngòai nhưng giá rẻ hơn. Hiện nay đã có một số trường tiên tiến nước ngòai đồng ý hợp tác với VN theo phương án này.
2. Chương trình liên kết: Là chương trình do VN và nước ngòai cùng thiết kế, biên sọan và thực hiện. Bằng cấp do 2 bên cùng ký.
3.Chuyển đổi tín chỉ: Nếu trường ĐH VN đủ năng lực và uy tín thì trường nước ngòai có thể đồng ý công nhận các tín chỉ mà SV đã học và tích lũy ở VN. Sau đó sang nước ngòai SV chỉ cần học thêm một thời gian ngắn nữa để hòan tất chương trình và nhận bằng nước ngòai.
4. Đại lý nước ngòai: trường hòan tòan do nước ngòai chủ trì về chương trình và giảng dạy. Phía VN có thể cho thuê cơ sở vật chất và làm đại lý cho trường nước ngòai. Những trường này có thể do nhà nước hoặc các tư nhân làm đại lý, nhưng tốt nhất là các tập đòan kinh tế hoặc các tổng công ty lớn thì cơ sở vật chất mới bảo đảm chất lượng và đáp ứng nhu cầu các trường có uy tín của nước ngòai.
5. Gia nhập các tập đòan ĐH QT: là biện pháp hội nhập nhanh và hiệu quả nhất, tiếc rằng hiện nay VN chưa có một trường ĐH nào nằm trong các tập đòan GD QT. Học tập 6. Đào tạo từ xa: SV ghi tên học trực tiếp với các trường nước ngòai. Bằng cấp do nước ngòai cấp.Đối tác VN chuẩn bị cơ sở vật chất như máy tính, TV, băng, đĩa, in ấn tài liệu. Đồng thời chúng ta cũng nên chuẩn bị một đội ngũ giảng viên VN có trình độ ngọai ngữ và vi tính để phụ đạo cho SV quen dần với lối học qua máy tính.
Các chương trình này có thể thực hiện theo từng trường, có thể
Để vươn lên tầm quốc tế cho GD ĐH VN, những người thực hiện trước hết phải là SV,GV. Do đó họ cần được giúp đỡ để tăng cường nhận thức phát triển các giá trị tòan cầu, 2)Nâng cao kiến thức ngọai ngữ: cần đề ra yêu cầu cụ thể cho SV tốt nghiệp ĐH có thể đọc được sách chuyên môn nước ngòai, có thể giao tiếp với người nước ngòai. Muốn thể cần cải tiến phương pháp dạy và thi ngọai ngữ: chú ý cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết chứ không phải chỉ có thi viết như hiện nay.
3) Phát triển giáo trình tiên tiến, nâng cấp cơ sở vật chất giảng dạy, tạo cơ hội cho giáo viên tham quan các cơ sở GD nước ngòai. Một số trường có thể bước đầu xây dựng những chương trình đào tạo nhân lực xuất khẩu. Hiện nay có thể thực hiện một số ngành như công nghệ thông tin, cử nhân điều dưỡng, cử nhân du lịch, nhà hàng, khách sạn.
4) Tiến hành các NCKH để tìm ra cách làm cụ thể tốt nhất cho GD VN trong điều kiện tòan cầu hóa.
5)Tìm hiểu thị trường GD QT để nhập khẩu GD đạt chất lượng tốt. Hình thành chiến lược marketing, quảng bá thương hiệu và chuẩn bịCon đường hội nhập QT của nền GD ĐH VN đang rộng mở thênh thang, nhiều thời cơ nhưng cũng đầy thách thức. Trên đây chỉ là một vài ý kiến trong vô vàn giải pháp mà chúng ta có thể thực hiện. Nếu quyết tâm, nền GDĐH VN với truyền thống và tinh thần ham học, không có lý do gì để không trở thành một nền GD mạnh trong khu vực. Tuy nhiên việc chuyển biến đầu tiên chắc chắn rằng phải từ những người làm chính sách và các nhà lãnh đạo, quản lý các trường ĐH-CĐ Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.2.Phạm Lan Hương, 2006, Giáo dục quốc tế- một vài tư liệu và so sánh, NXB Đại học Quốc gia Tp. HCM
5.6. Phạm Phụ, 2008, Giáo dục đại học Việt Nam đang ở đâu?, 7. Phạm Duy Hiển, 2008, Khoa học và đại học Việt Nam qua những công bố quốc tế gần đây, Tia Sáng ngày 10/11/2008
8. Jamil Salmi, 2009, the Challenge of Establishing world- class universities, WB
9. Philip Altbach, 2006, The Dilemmas of Ranking, International Higher Education number 42.
10. Fernado M. Reimers, 2008, Preparing Students for the Flat World, Education Week, October 3, 2008
11. Các websites: http://moet.gov.vn ngày 20/3/2009