Sinh viên các ngành văn – sử – triết giảm mạnh
Xu hướng này bắt nguồn từ sự trỗi dậy của "nền kinh tế tri thức", dẫn đến việc các lĩnh vực KHXH&NV ngày càng bị xem nhẹ.
Trong hai thập niên qua, giáo dục đại học toàn cầu thay đổi sâu sắc: số sinh viên gấp đôi, các ngành STEM ngày càng lấn át, trong khi khoa học xã hội – nhân văn suy giảm và dòng du học dịch chuyển. Các xu hướng này đang tác động lâu dài tới công bằng, chất lượng và hướng phát triển của các đại học.
Ngành STEM chiếm ưu thế, KHXH và NV gặp nhiều khó khăn
Số lượng sinh viên khối Khoa học xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) đang giảm trên phạm vi toàn cầu. Tại Mỹ, số bằng cử nhân các ngành nhân văn cốt lõi (như triết học, lịch sử) đã giảm gần 25% trong thập kỷ qua (2012–2022); riêng ngành Ngôn ngữ và Văn học Anh giảm tới 32%. Bức tranh tương tự cũng diễn ra tại các cường quốc giáo dục khác.
Ngược lại, các trường đại học ngày càng đặt trọng tâm vào các chương trình khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) hơn bao giờ hết. Điển hình là Trung Quốc đã vươn lên nhanh chóng trong các bảng xếp hạng đại học thế giới nhờ thúc đẩy nghiên cứu STEM. Lĩnh vực này từng bắc cầu cho mối quan hệ hợp tác học thuật lớn nhất thế giới giữa Mỹ và Trung Quốc, với 60.000 bài báo nghiên cứu chung năm 2020.
Tại Anh, trong khi số sinh viên các ngành STEM tăng 21%, khối nhân văn lại sụt 10% trong giai đoạn 2011–2021. Tại Đức, lượng sinh viên theo học STEM tăng vọt 39,5% trong giai đoạn 2008–2018, trong khi các ngành nhân văn dậm chân tại chỗ hoặc đi xuống. Năm 2020, Trung Quốc ghi nhận hơn 60% sinh viên đại học đăng ký vào các ngành STEM.
Nhiều học giả nhận định rằng xu hướng suy giảm bắt nguồn từ sự trỗi dậy của hệ tư tưởng “nền kinh tế tri thức”, dẫn đến việc các lĩnh vực KHXH&NV ngày càng bị xem nhẹ, do các ngành này vốn thiếu tính thực dụng kinh tế và ít gắn kết với thị trường. Ví dụ, tại New Zealand, quỹ nghiên cứu công Marsden đã công bố loại bỏ các ngành KHXH&NV khỏi danh mục tài trợ từ năm 2025. Mục đích để dồn lực cho khối ngành STEM phục vụ mục tiêu tái thiết kinh tế và thúc đẩy công nghệ cao theo định hướng của chính phủ.
Hay như một phân tích vào tháng 9/2025 của British Academy, viện hàn lâm quốc gia chuyên về lĩnh vực KHXH&NV, chỉ ra rằng nhiều trường đại học tại Vương quốc Anh đang đồng loạt đóng cửa các khoa KHXH, NV và nghệ thuật nhằm đối phó với áp lực tài chính và sự chi phối từ các quy luật thị trường.
Trong khi đó, dữ liệu cho thấy sinh viên các ngành này có tỷ lệ thành công sự nghiệp không kém cạnh khối ngành STEM.
Dần “phổ cập” đại học nhưng không đồng đều

Số lượng sinh viên đang có xu hướng gia tăng bùng nổ. Kể từ năm 2000 đến nay, con số này tăng gấp đôi, lên tới 264 triệu sinh viên.
Tỷ lệ giữa số sinh viên nhập học trên tổng dân số trong độ tuổi học đại học (tỷ lệ nhập học gộp – gross enrollment ratio, GER) của toàn thế giới tăng từ 19% vào năm 2000 lên 43% vào năm 2023.
Nếu tại Tây Âu và Bắc Mỹ, đại học đã trở thành tiêu chuẩn phổ cập (GER đạt 80%), thì các khu vực khác như Trung Âu, Đông Á và Mỹ Latin cũng đang bám đuổi quyết liệt nhờ sự phát triển của khối tư thục và các chính sách quốc gia. Giai đoạn 2000-2023, tỷ lệ GER của khu vực Đông Á và Đông Nam Á tăng từ 15% lên 62% và của khu vực Mỹ Latin và Caribe tăng từ 23% lên 58%.
Tuy nhiên, quy mô sinh viên tăng không đồng nghĩa với công bằng trong tiếp cận đại học. Mức độ chênh lệch vẫn rất lớn nếu nhìn sang châu Phi cận Sahara – khu vực duy nhất có tỷ lệ nữ giới đi học thấp hơn nam giới và tỷ lệ GER chỉ dừng ở 9%.
Bên cạnh đó, việc “phổ cập” đại học cũng dẫn đến tình trạng “lạm phát bằng cấp”. Ở các khu vực có tỷ lệ nhập học cực kỳ cao, bằng cấp, kể cả bằng thạc sĩ và tiến sĩ, trở thành điều kiện cần nhưng chưa đủ.
Nhóm “Big Four” giảm sức hút với sinh viên quốc tế
Vào năm 2000, thế giới có 2,1 triệu sinh viên du học; ngày nay, con số này là 6,9 triệu, chiếm 2,6% tổng số sinh viên toàn cầu. Ở một số khu vực như liên minh châu Âu, khoảng 9% sinh viên đi du học. Dự kiến trong thập kỷ tới, thế giới sẽ cán mốc 10 triệu sinh viên du học.
Trong nhiều thập kỷ, Bắc Mỹ và châu Âu là các điểm đến chính nhờ hệ thống giáo dục công được đầu tư chất lượng cao và do các chương trình sau đại học chuyên sâu thường không sẵn có ở các nước đang phát triển. Trong năm 2022, hai khu vực này thu hút khoảng 4 triệu sinh viên quốc tế, chiếm hơn nửa số sinh viên du học toàn cầu.
Tuy nhiên, vị thế độc tôn của các điểm đến du học hàng đầu đang lung lay. Nhóm “Big Four” (Mỹ, Vương quốc Anh, Úc, Canada) đánh mất sức hút do các chính sách nhập cư thắt chặt, thủ tục thị thực phức tạp, chi phí đắt đỏ và môi trường thiếu thân thiện. Ví dụ, các động thái hạn chế thị thực tại Mỹ được dự báo có thể làm giảm 30-40% lượng sinh viên quốc tế vào năm học 2025-2026 so với năm học trước, tương đương giảm khoảng 338-450 nghìn người.

Đáng chú ý, sự dịch chuyển “Nam – Nam” (giữa các nước đang phát triển với nhau) thay thế dần cho dòng chảy “Nam – Bắc” truyền thống (sinh viên từ nước đang phát triển tìm cơ hội học tập tại các nước phát triển). Sinh viên ngày càng ưu tiên các điểm đến trong khu vực hoặc các điểm đến mới nổi như Hàn Quốc, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ nhờ chi phí hợp lý và thủ tục thuận tiện. Ví dụ, sinh viên Nga đang chuyển hướng sang châu Á do các lệnh trừng phạt từ phương Tây, trong khi sinh viên Trung Quốc bắt đầu lựa chọn đặc khu Hồng Kông hoặc các nước lân cận làm phương án thay thế khi không được nhận vào các trường đại học hàng đầu ở Mỹ và Bắc Âu.
Để ứng phó với tình trạng sụt giảm này, các trường đại học phương Tây đang đẩy mạnh chiến lược “giáo dục xuyên biên giới” bằng cách mở các cơ sở vệ tinh tại nước ngoài. Theo một báo cáo của UK Universities International, số sinh viên theo học tại các trường đại học của Vương quốc Anh ở nước ngoài có thể sớm vượt qua con số sinh viên quốc tế tại chính quốc. Trong năm học 2023-2024, Vương quốc Anh tiếp nhận khoảng 732.000 sinh viên quốc tế, và đào tạo khoảng 621.000 sinh viên theo học tại các cơ sở vệ tinh ở nước ngoài.
Sự lớn mạnh của giáo dục tư thục
Phần lớn sự tăng trưởng ở lĩnh vực giáo dục đại học thế giới là do khu vực tư thục đóng góp, và được thúc đẩy bởi lợi ích cá nhân từ giáo dục. Quá trình tư nhân hóa diễn ra đặc biệt nhanh ở những khu vực nơi đầu tư của chính phủ không bắt kịp tốc độ gia tăng của nhu cầu, như Đông Nam Á, Mỹ Latin và châu Phi. Theo thống kê của Chương trình Nghiên cứu Giáo dục đại học tư (The Program for Research on Private Higher Education), hơn 30% tổng số sinh viên đại học trên toàn cầu theo học tại các cơ sở giáo dục đại học tư thục vào năm 2018.
Các nhà nghiên cứu cho rằng giáo dục tư thục có thể bù đắp những khoảng trống mà hệ thống công lập chưa đáp ứng kịp, nhất là ở các lĩnh vực như khoa học máy tính, quản trị kinh doanh và những ngành đào tạo đặc thù như thần học. Tuy vậy, giáo dục tư thục thường né tránh các lĩnh vực nặng về học thuật, như đào tạo tiến sĩ hoặc đào tạo y khoa, vì thế nó không khỏa lấp được sự thiếu hụt trong nguồn tài trợ công.
Chất lượng đào tạo cũng là một thách thức lớn. Ngoại trừ một số nước phát triển như Mỹ hay Nhật, trường tư ở nhiều nơi thua kém trường công do quy định lỏng lẻo. Để khắc phục, một số quốc gia như Ấn Độ đang thí điểm mô hình liên kết hợp tác công – tư để chia sẻ nguồn lực.
Nguồn tham khảo:
de Wit, Hans. (2025, November 5). Student mobility outlook: Expect more South-South focus. University World News.
Garisto, D. (2025, September 24). The great university shake-up: Four charts show how global higher education is changing. Nature.
Kyriakidis, K. (2025). Focus on STEM at the Expense of Humanities: A Wrong Turn in Educational Systems. Journal of Systemics, Cybernetics and Informatics, 23(7), 95-101.
Levy, D. C. (2018). The Vanishing Public Monopoly, Journal of International Higher Education Issue No 94
National Center for Science and Engineering Statistics. (2023). International comparisons of S&E higher education.
Packer, H. (2025, September 10). Humanities and arts degrees disappearing in parts of UK. University World News.
Sarpong, J. (2025). Funding Cut for the Humanities in Neoliberal Higher Education Systems: A Case of New Zealand’s Marsden Fund. New Zealand Journal of Educational Studies, 1-14.
UNESCO. (2025). Global education statistics report. UNESCO.
