![]() |
Giờ Trái đất còn là cơ hội để nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, khuyến khích mỗi cá nhân và tổ chức hành động vì một tương lai xanh và bền vững. Ảnh: EarthHour
Đến hẹn lại lên, cứ vào 20:30 đến 21:30 phút thứ bảy cuối cùng của tháng Ba, trên 63 tỉnh thành của Việt Nam đều có những hộ gia đình, văn phòng công sở và nhà máy tắt bớt đèn và các thiết bị điện không cần thiết để hưởng ứng phong trào Giờ Trái đất. Phong trào này được bắt đầu từ năm 2007 ở Sydney, Úc, và đã nhanh chóng lan sang nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, như một biểu tượng của sự cam kết "dành một giờ" cho hành tinh.
Mục đích của Giờ Trái đất là trở thành một phong trào mạnh mẽ cho biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, làm nổi bật tầm quan trọng của hành động tập thể của mỗi người trong việc tạo ra các giải pháp.
Ở Việt Nam, do được khởi xướng bởi Bộ Công Thương từ năm 2009 nên Giờ Trái đất bắt đầu bằng các nhận thức về mục tiêu tiết kiệm năng lượng, sau đó lan tỏa sang các mục tiêu bao trùm hơn về môi trường và phát triển bền vững. Tuy nhiên phần lớn các chủ đề hàng năm vẫn dựa trên nền tảng năng lượng. Chẳng hạn, thông điệp của Giờ Trái đất của Việt Nam năm 2023 và 2024 là "Tiết kiệm điện - Thành thói quen". Thông điệp năm 2025 là "Chuyển dịch xanh - Tương lai xanh", hàm ý nỗ lực phát triển một nền kinh tế dịch chuyển dần dần từ các nguồn năng lượng phát thải carbon cao sang các nguồn năng lượng phát thải carbon thấp và tiến tới là không phát thải carbon.
Giờ Trái đất có thể tạo ra sự khác biệt?
Một trong những lý do khiến Giờ Trái đất dễ lan tỏa như vậy là do đó là một nhiệm vụ tương đối đơn giản mà mọi người có thể tham gia vào. Nó tạo ra một ý thức cộng đồng mạnh mẽ tại cùng một thời điểm. Hơn nữa, đây là cách tiếp cận lạc quan đối với một chủ đề nghiêm túc và khó chịu như tiết kiệm năng lượng.
Thống kê của Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia (A0/NSMO) trong 17 năm qua cho thấy, mỗi năm Giờ Trái đất ở Việt Nam giảm được trung bình khoảng 420.000 kWh, tương đương với việc cung cấp điện cho gần 97 hộ gia đình trong một năm.
Con số này thực ra rất nhỏ, không đáng kể so với lượng điện tiêu thụ hằng giờ của cả nước (lên tới hàng chục triệu kWh), không đáng kể cho các mục tiêu tiết kiệm quốc gia, cũng không đủ để tạo ra sự khác biệt thực sự nào về lượng khí thải CO2. Tuy nhiên, con số tiết kiệm được trong một giờ ngắn ngủi cũng không phải là mục tiêu của Giờ Trái đất. Câu hỏi sâu xa hơn là liệu thông điệp của Giờ Trái đất, của việc tiết kiệm năng lượng, có thực sự biểu hiện thành một thực hành dài hạn?
Thật không may, Việt Nam chưa có bất kỳ một khảo sát hay nghiên cứu công khai nào về vấn đề này. Chúng ta không biết được rằng có bao nhiêu người đã tham gia Giờ Trái đất, bao nhiêu người có thể đã thay đổi nhận thức về tiết kiệm năng lượng thông qua các sự kiện Giờ Trái đất hằng năm. Chúng ta cũng không có số liệu về mức độ tiết kiệm lâu dài của các hộ gia đình, doanh nghiệp hay tổ chức dựa trên sự ảnh hưởng của Giờ Trái đất hay bất kỳ một sự kiện cộng đồng nào khác.
![]() |
Mức tiết kiệm điện hàng năm của cả nước trong các sự kiện Giờ Trái đất. Dữ liệu: Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (A0/NSMO). Đồ họa: KHPT
Ngay cả các con số tiết kiệm được của Giờ Trái đất công bố hằng năm - ví dụ như 448.000 kWh của năm nay - cũng không được đặt trong tương quan nhu cầu sử dụng điện tổng thể, điều có thể giúp chúng ta dễ hình dung hơn về tầm ảnh hưởng ngắn hạn của sự kiện. Một nghiên cứu năm 2014 đã phân tích 274 dữ liệu về sự thay đổi nhu cầu điện do Giờ Trái đất tác động tại 10 quốc gia trong sáu năm. Kết quả cho thấy sự kiện này giúp giảm trung bình 4% mức tiêu thụ điện, trong đó các quốc gia có mức giảm tiêu thụ điện cao nhất là Canada (-28%) và Úc (-18.8%), trong khi một số khu vực có mức giảm không đáng kể hoặc thậm chí tăng nhẹ như New Zealand (+2%).
Các phép đo được so sánh giữa mức giảm tiêu thụ điện trong Giờ Trái đất với mức dự báo tiêu thụ điện, mức tiêu thụ điện trung bình bình thường, hoặc mức tiêu thụ điện ngay trước Giờ Trái đất. Thông qua đó, các nhà nghiên cứu kết luận rằng việc giảm lượng điện tiêu thụ ở quy mô lớn là "hoàn toàn khả thi khi có một bộ phận lớn dân số cùng hành động, dù chỉ trong thời gian ngắn, mà không cần đến các biện pháp khuyến khích về giá. [Kinh nghiệm này] có thể rất quan trọng đối với các nhà lãnh đạo ngành điện và các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt trong những ngày hoặc giờ trước khi xảy ra tình trạng thiếu điện, khi giá điện chưa kịp tăng"1.
Trong khi đó, việc xem xét thói quen tiết kiệm điện thực sự diễn ra hay không đòi hỏi rất nhiều số liệu hành vi thực tế hoặc các khảo sát về hành vi khai báo. Tuy nhiên, cần thận trọng khi sử dụng khảo sát làm thước đo cho cam kết môi trường của người tiêu dùng. Một nghiên cứu về Giờ Trái đất của Sydney năm 2007 cho thấy Giờ Trái đất không tạo ra tác động đáng kể đến mức tiêu thụ điện (chỉ giảm 2%), nhưng người tham gia đã phóng đại 36% mức độ tham gia của họ, có nghĩa là họ đã không thực sự thực hiện tiết kiệm điện nhiều như khai báo. Có thể áp lực xã hội đã khiến nhiều người khai báo tham gia cao hơn hành động thực sự2.
Hơn nữa, một số nhà điều hành lưới điện cho biết việc giảm điện đột ngột rồi tăng trở lại có thể làm tăng lượng phát thải vì cần một nguồn năng lượng lớn để tăng tốc lại hệ thống – tương tự như lúc phanh gấp hoặc rồ ga khi lái xe sẽ tiêu hao nhiều nhiên liệu hơn so với đi tốc độ bình thường. Nếu có báo cáo về lượng khí thải carbon giảm được khi tiết kiệm 448.000 kWh điện trong một giờ thì cũng cần có số liệu đối chiếu về lượng khí thải mà ngành điện đã tạo ra để phục vụ sự kiện. Điều này giúp đánh giá tác động thực sự của sự kiện một cách toàn diện hơn.
![]() |
bãi đỗ xe sân bay Nội Bài tắt bớt đèn hưởng ứng Giờ Trái đất 2025. Ảnh: Noi Bai Airport |
Thiếu dữ liệu theo dõi cụ thể về tác động thực tế của Giờ Trái đất không chỉ làm giảm tính thuyết phục của sự kiện mà còn có thể dẫn đến những hệ quả không mong muốn. Chẳng hạn, một số nhà môi trường đã chỉ trích sự kiện Giờ Trái đất là không hiệu quả vì nó khiến cho các cá nhân "cảm thấy tốt" khi làm hành động tắt đèn, nhưng không tạo ra sự khác biệt thực tế về việc giảm phát thải carbon. Báo chí đã từng lên tiếng về việc nhiều bạn trẻ chọn lái xe quanh thành phố Hà Nội tối tăm để giải trí, cạn kiệt xăng dầu thay vì điện và dẫn đến tắc đường kéo dài. Hoặc những người tham gia sự kiện cùng các cửa hàng, quán cà phê sử dụng nhiều nến hơn trong Giờ Trái Đất để tạo không gian, vô tình thải ra một lượng CO2 mà bình thường không có.
Hiệu ứng "tự thỏa mãn đạo đức" (moral licensing) cũng có thể xuất hiện, khi mọi người cho rằng việc tắt đèn trong một giờ là đủ để đóng góp cho môi trường, từ đó không thực hiện các biện pháp quan trọng hơn như giảm sử dụng điện trong sinh hoạt hằng ngày, hạn chế phương tiện cá nhân hay ủng hộ năng lượng tái tạo.
Biến biểu tượng thành thói quen
Có lẽ, chúng ta không nên chỉ nhìn Giờ Trái đất như một sự kiện đơn lẻ. Các nhà phát triển cho rằng việc khuyến khích các hoạt động tiết kiệm năng lượng bền vững đòi hỏi những nỗ lực liên tục ngoài một sự kiện duy nhất. Tuy vậy, Giờ Trái đất vẫn có thể đóng vai trò như một biểu tượng mạnh mẽ và dễ truyền thông điệp nếu xây dựng được một cộng đồng thực hành xung quanh.
Việc cắt giảm điện năng tiêu thụ trong một giờ của Giờ Trái đất đã vạch ra một thực tế rằng chúng ta đang sử dụng nhiều năng lượng hơn mức cần thiết. Vẫn còn dư địa để cải thiện. Giảm bớt một chút điện trong cuộc sống tiện nghi hàng ngày không làm chúng ta rơi vào cảnh thiếu thốn. Hằng trăm nghìn người đã sống trong bóng tối một giờ mà không bị tổn hại. Hằng chục doanh nghiệp hưởng ứng Giờ Trái đất cho biết họ vẫn vận hành tốt khi giảm công suất các thiết bị không cần thiết. Do vậy, mục tiêu tiết kiệm tối thiểu 2,0% tổng điện năng tiêu thụ hàng năm của Việt Nam thông qua chương trình quốc gia VNEEP là hoàn toàn khả thi.
"Giờ Trái đất" cũng là một thương hiệu tốt. Bản thân tên gọi này đã gợi nên một sự gắn kết tình cảm và trách nhiệm của con người với Trái đất. Nghiên cứu chỉ ra rằng các hành động ngắn hạn có thể ảnh hưởng đến những thay đổi hành vi lâu dài nếu được duy trì đúng cách. Do vậy, với một chiến lược marketing, giáo dục và quản lý cộng đồng phù hợp, người ta có thể tăng tần suất thực hiện các sự kiện "Giờ Trái đất" lên hằng tháng, thậm chí hằng tuần. Dù không phải ai cũng tham gia nhưng chỉ cần một nhóm nhỏ thực hành tiết kiệm điện vẫn có thể giảm đáng kể mức tiêu thụ và truyền cảm hứng cho những người khác.
Hơn nữa, sáng kiến cộng đồng này có thể được mở rộng và gắn kết chặt chẽ hơn với chính quyền địa phương và doanh nghiệp, ví dụ như với các chương trình điều chỉnh phụ tải điện trong những khung giờ cao điểm nắng nóng. Đến một lúc nào đó, khi gọi tên "Giờ Trái đất", mọi người có thể hiểu ngay đó là lời yêu cầu thực hiện tiết kiệm điện.
Tư liệu tham khảo
[1] Sarah J. Olexsak, Alan Meier, The electricity impacts of Earth Hour: An international comparative analysis of energy-saving behavior, Energy Research & Social Science, Volume 2, 2014, Pages 159-182, ISSN 2214-6296, https://doi.org/10.1016/j.erss.2014.04.014.
[2] Solomon, D, "How Effective are Individual Lifestyle Changes in Reducing Electricity Consumption ?-Measuring the Impact of Earth Hour." (2008). https://citeseerx.ist.psu.edu/
Bài đăng KH&PT số 1337 (số 13/2025)
Ngô Hà


