Trong danh sách những tân giáo sư năm 2024, cái tên Ngô Thị Phương Lan hiện lên không chỉ như một danh hiệu, mà còn như một hiện tượng. Bà là người duy nhất của liên ngành Sử - Khảo cổ - Dân tộc học chạm tay vào học hàm này.
Nhưng nếu chỉ nhìn vào học hàm, ta mới thấy được phần nổi. Phía sau đó là hành trình của một người phụ nữ mang trong mình sự giao thoa kỳ lạ giữa tư duy quản trị lạnh lùng và trái tim nóng hổi của một nhà nhân học, giữa những giảng đường phương Tây và bờ bãi miền Tây ngập mặn.
Từ phù sa Cần Đước đến tư duy "ghép cành"
Ngô Thị Phương Lan sinh ra và lớn lên ở Cần Đước, Long An – cái rốn giao thoa giữa Sài Gòn đô hội và miền Tây sông nước – từ nhỏ, bà đã thấy được sự va đập của thời cuộc. Sự chuyển dịch từ nếp sống lúa nước sang cơn lốc đô thị hóa đã gieo vào lòng cô gái trẻ những câu hỏi day dứt về phận người nông dân và cấu trúc làng xã đang xuất hiện những vết rạn nứt, thậm chí là đứt gãy từng ngày.
Hành trình học thuật của bà là một cả một chiến lược lạ lùng: "đi thật xa để trở về" cũng như học thật rộng để đào thật sâu. Từ cử nhân Đông phương học, bà bước ra thế giới với tấm bằng thạc sĩ tại Đại học Toronto (Canada) vào năm 2000. Tại đây, bà được trang bị những vũ khí sắc bén nhất của ngành nhân học Anh - Mỹ và các khung lý thuyết về sinh kế bền vững. Bà cũng được xem là "học trò ruột" của giáo sư Lương Văn Hy - nhà nhân học gốc Việt hàng đầu thế giới từng giữ chức Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Châu Á.
Nhưng cái hay của Ngô Thị Phương Lan nằm ở chỗ bà chọn quay về. Thay vì tiếp tục làm nghiên cứu sinh ở trời Tây, bà chọn trở lại Việt Nam làm tiến sĩ. Bà gọi đó là chiến lược "grafting" (ghép cành). Bà hiểu rằng, lý thuyết phương Tây dù hay đến mấy cũng chỉ là cành, nó cần được ghép vào cái gốc rễ dữ liệu thực địa ngồn ngộn sức sống của Việt Nam mới có thể đơm hoa kết trái.
GS. TS Ngô Thị Phương Lan trong một lần đi thực địa. Ảnh: NVCC
Dấu ấn đậm nét nhất trong sự nghiệp nghiên cứu của GS Ngô Thị Phương Lan chính là cái nhìn thấu đáo về cuộc chuyển dịch "từ lúa sang tôm" ở đồng bằng sông Cửu Long. Bà không nhìn nó như một biểu đồ kinh tế, mà như một cuộc "đánh cược" vĩ đại của thân phận con người ở miền đất khai hoang thuở nào.
Về mặt kinh tế, con tôm là giấc mơ đổi đời. Một vụ tôm trúng có thể bằng mười vụ lúa. Nhưng bà gọi đó là "canh bạc". Nếu cây lúa là sự "tích tiểu thành đại", là sự cần mẫn của người nông dân chân chất, thì con tôm đại diện cho tư duy rủi ro cao, lợi nhuận lớn. Bà chỉ ra rằng, khi chuyển sang nuôi tôm, người nông dân buộc phải trở thành những "nhà đầu tư" mạo hiểm. Họ vay mượn, họ cầm cố, và họ nín thở theo dõi độ mặn của nước từng giờ.
Sự căng thẳng ấy đã vô tình xé toạc mạng lưới xã hội vốn rất bền chặt ở nông thôn. Ngày xưa trồng lúa, xóm giềng "tối lửa tắt đèn có nhau", nhà này cấy xong sang vần công cho nhà kia. Nhưng con tôm cần sự biệt lập. Người ta sợ dịch bệnh lây lan, sợ nguồn nước ô nhiễm từ ruộng hàng xóm. Những bờ bao ngày càng được đắp cao hơn, những hàng rào kẽm gai mọc lên. Sự nghi kỵ len lỏi vào từng bữa cơm. GS Lan chua xót nhận ra: Nước mặn tràn vào mang theo tiền bạc, nhưng cũng rửa trôi đi cái "vốn xã hội" quý giá nhất – lòng tin cậy.
Không dừng lại ở việc mổ xẻ bi kịch, tư duy quản trị và tầm nhìn phát triển đã dẫn dắt GS Ngô Thị Phương Lan đến với mô hình "tôm - lúa luân canh".
Tầm nhìn và tư duy này đã được bà trình bày trong luận án tiến sĩ "Hành vi giảm thiểu rủi ro và vận dụng nguồn vốn xã hội của nông dân người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm" vào năm 2011 tại Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia TP HCM.
Theo đó, bà cổ vũ cho triết lý "nông nghiệp thuận thiên". Thay vì cưỡng bức đất đai, người dân nương theo nhịp điệu tự nhiên: mùa mưa nước ngọt về thì trồng lúa, mùa khô nước mặn lên thì nuôi tôm. Gốc rạ sau mùa gặt là thức ăn cho tôm, chất thải của tôm là phân bón cho lúa.
Quan trọng hơn cả kỹ thuật, mô hình này giúp hàn gắn lại các đứt gãy xã hội. Để làm được lúa - tôm, cộng đồng buộc phải quay lại ngồi với nhau thống nhất lịch thời vụ, cùng quản lý nguồn nước. Sự hợp tác quay trở lại. Cái tình làng nghĩa xóm được hâm nóng trên cơ sở lợi ích chung bền vững.
Cũng với tư duy đó, trong các nghiên cứu về sinh kế tại đồng bằng sông Cửu Long, bà luôn nhấn mạnh vai trò của vốn xã hội và tri thức bản địa, bên cạnh các yếu tố kỹ thuật.
"Tôi luôn cho rằng, để phát triển một cách bền vững, cần phải xem xét đến góc nhìn của người trong cuộc - nghĩa là phải coi trọng vốn xã hội, tri thức bản địa và mạng lưới cộng đồng xung quanh," bà trao đổi với Tia Sáng. "Trong quá trình nghiên cứu về sinh kế và thích ứng ở đồng bằng sông Cửu Long, tôi nhận thấy một thực tế: chính sách phải hướng đến số đông trong khi thực tiễn xã hội luôn đa dạng, do vậy việc thực thi các chính sách thường có những hạn chế nhất định. Các quy hoạch hạ tầng, công trình chống ngập, chuyển đổi cây trồng là cần thiết, nhưng để thực hiện hiệu quả thì từ trong suốt quá trình đó phải có sự tham gia của tiếng nói người trong cuộc, tức là những người sẽ thụ hưởng hay chịu tác động của các chính sách này," bà nhấn mạnh.
GS.TS Ngô Thị Phương Lan trở thành nữ hiệu trưởng đầu tiên của Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia TP HCM, vào năm 2018.
Đồng thời, bà bày tỏ sự trăn trở về việc tiếng nói của giới khoa học xã hội và nhân văn còn mờ nhạt trong các quyết sách phát triển vùng.
"Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, chúng ta đang đo sự phát triển bằng năng suất và hiệu suất thể hiện qua các con số có thể đo đếm được và có hiệu quả tức thì, trong khi những giá trị do xã hội nhân văn đem đến thì nằm ở tầng sâu của các hiện tượng xã hội và cần có thời gian để thấy được hay trải nghiệm các dự báo hay tác động," bà lý giải. "Vì thế, những góc nhìn của nhân học, xã hội học – vốn chú trọng những giá trị như niềm tin, thấu cảm, khát vọng, sự thể hiện, mối quan hệ, cảm nhận, nhân bản, phản tư, bản sắc... nằm trong chiều sâu nhận thức của con người thường bị xem như yếu tố ‘bổ trợ’ thay vì ‘trung tâm’ của phát triển."
Từ quan điểm đó, bà cho rằng đã đến lúc cần có cách nhìn khác về phát triển vùng. "Đồng bằng sông Cửu Long hay các vùng đất khác không chỉ là một vùng sản xuất, mà là một hệ sinh thái xã hội – văn hóa – con người. Và chính yếu tố 'năng lực chủ thể' của người dân cùng với sự đồng hành qua sự thấu cảm của các nhà quản lý và làm chính sách thì mới có thể đẩy nhanh được tốc độ của sự phát triển," bà nhấn mạnh.
Bản lĩnh quản trị và trái tim nhà giáo
Người ta thường nghĩ học giả thì thường ngồi trong tháp ngà cách biệt. Nhưng GS Ngô Thị Phương Lan là minh chứng cho sự nhập thế. Khi trở thành nữ hiệu trưởng đầu tiên của Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia TP HCM vào năm 2018, bà mang tư duy của nhà nhân học vào quản trị đại học.
Trở thành hiệu trưởng trong giai đoạn chuyển đổi sang cơ chế tự chủ đi kèm với áp lực tài chính rất, đó là lèo lái con thuyền đại học giữa ranh giới mong manh của "tự nuôi sống mình" và "chạy theo thị hiếu". Nói cách khác, bà phải giải bài toán cơm áo gạo tiền mà không được phép đánh mất "chất nhân văn".
Nhưng ngay từ đầu, GS Ngô Thị Phương Lan đã xác định, cơ chế tự chủ đại học là xu thế tất yếu, và với những trường mang bản sắc hàn lâm như Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, "đây không chỉ là một thay đổi về cơ chế tài chính mà là một 'phép thử' về bản lĩnh và tầm nhìn, vừa là thách thức vừa là cơ hội lớn để thay đổi và chuyển mình".
"Chúng tôi luôn ý thức rằng tự chủ không có nghĩa là thương mại hóa tri thức, mà là tự chủ để sáng tạo, để dám khác biệt, để dám theo đuổi những giá trị dài hạn của tri thức," bà chia sẻ với Tia Sáng. "Trong cơ chế đó, để vừa đảm bảo nguồn lực cho phát triển, vừa giữ được 'ngọn lửa học thuật' chúng tôi đã chọn cách làm là tăng hiệu quả quản trị, đa dạng hóa nguồn lực, đồng thời khơi dậy tinh thần cống hiến của đội ngũ."
Cụ thể, bà cho biết, Trường đã chủ động mở rộng các chương trình đào tạo liên ngành, ngắn hạn, đào tạo cho doanh nghiệp, cơ quan quản lý, tạo ra nguồn thu hợp pháp, nhưng luôn gắn với sứ mệnh lan tỏa tri thức nhân văn. Đồng thời, Trường cũng có chính sách hỗ trợ các ngành khoa học cơ bản hay khó tuyển với sự hỗ trợ của ĐH Quốc gia TP HCM để tiếp tục thực hiện sứ mệnh phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị xã hội có tầm chiến lược.
"Tất cả các nguồn lực của Trường đều tập trung đầu tư cho con người, yếu tố cốt lõi cho sự phát triển của tổ chức, cho xã hội và nhân loại," bà bày tỏ.
Là một cựu sinh viên của Trường, cũng từng ở vị trí "nợ học phí", tôi luôn thấy xúc động khi đọc những thông tin về ngôi trường cũ của mình liên quan tới một "tiền lệ" rất đặc biệt: sinh viên nghèo thì được nợ học phí, và nợ thì vẫn học, vẫn thi, vẫn mặc áo cử nhân tốt nghiệp như bình thường. Tôi nghĩ rằng, chưa bao giờ cô giáo Lan xem khoản này là "nợ xấu" cả...
Và với khát vọng của một kiến trúc sư phát triển bền vững, GS Lan đưa vào trường triết lý "đại học xanh" (green university). Xanh không chỉ là cây cối. Xanh là một hệ sinh thái giáo dục lành mạnh, nơi tư duy phản biện và lòng trắc ẩn được nuôi dưỡng, nơi sinh viên được trang bị để trở thành những công dân toàn cầu nhưng vẫn giữ vững căn cước Việt.
GS Ngô Thị Phương Lan là một chân dung mới mẻ của khoa học xã hội Việt Nam đương đại: một cái đầu lạnh đầy ắp lý thuyết hàn lâm, nhưng lại được dẫn dắt bởi một trái tim nóng hổi nhịp đập thực tiễn.
Bà chứng minh rằng, khi người phụ nữ làm khoa học và quản trị, họ không chỉ giải quyết công việc, mà họ đang kiến tạo những giá trị. Đó là hành trình của một người con gái sông Tiền, mang chữ ra đi rồi lại mang tri thức trở về, gieo mầm xanh lên những vùng đất đang chuyển mình dữ dội.