Là một gương mặt nghệ sĩ 9X đáng nhớ của nghệ thuật đương đại Việt Nam, điều đặc biệt về Phạm Hà Ninh không phải là nền tảng học thuật vững chắc từ tấm bằng Thạc sĩ Mỹ thuật tại Học viện Mỹ thuật Pennsylvania (Mỹ), cùng lý lịch kinh qua hàng loạt chương trình lưu trú danh giá (Skowhegan, Yaddo, Cité Internationale des Arts) và các triển lãm trong cũng như ngoài nước.
Điểm thú vị chinh phục những người yêu cá tính nghệ thuật của Hà Ninh là một "vũ trụ" độc đáo do anh không ngừng miệt mài kiến tạo.
Hà Ninh trao đổi cùng cộng sự trong quá trình sắp đặt trưng bày cá nhân năm 2022 tại Tách Space (Hà Nội). Ảnh: Dạ Miêu
Từng quan sát chặng đường của Hà Ninh từ những ngày anh mới tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam, mối quan hệ nghề nghiệp giữa chúng tôi đã trải qua một hành trình thú vị. Từ những góc nhìn ban đầu có thể chưa hoàn toàn đồng điệu, chúng tôi dần tò mò về công việc của nhau và theo thời gian, tìm thấy sự thấu hiểu, chia sẻ và cộng tác trong công việc. Điều khiến tôi nể trọng nhất ở Hà Ninh là thái độ làm việc vô cùng nghiêm cẩn, chuyên nghiệp và một cường độ sáng tạo bền bỉ đáng kinh ngạc.
Thực hành nghệ thuật của Hà Ninh xoáy sâu vào một dự án dài hơi mang tên My Land (tên tiếng Việt: Đất mình), được anh thực hiện từ năm 2017. Đây không chỉ là một chuỗi tác phẩm mà là cả một vũ trụ tưởng tượng đồ sộ, nơi Hà Ninh xây dựng hệ thống ngôn ngữ, logic và vũ trụ luận riêng, với mong muốn tạo ra một vùng đất không tương đồng với bất kỳ nền văn minh nào từng tồn tại trong lịch sử nhân loại.
My Land tạo cho người xem ấn tượng về một vùng đất vừa hư cấu xa lạ, vừa có có gì đó quen thuộc rất gần với hiện thực mà không thể lý giải. Ranh giới mong manh bí ẩn giữa cả hai sắc thái được thể hiện qua các bộ tác phẩm tranh mô phỏng bản đồ (Mothermap), điêu khắc mô phỏng đồ tạo tác (Logs), ngôn ngữ (Loop Scripts) và văn hóa phẩm (My Land Ltd.), nơi Hà Ninh liên tục thử thách ranh giới của sự thật, muốn xem bản thân có thể tiến xa đến đâu trong việc thuyết phục người xem về sự tồn tại của một vùng đất tưởng tượng.
Phạm Hà Ninh. [Mothermap] (2019), than chì, màu nước, phấn tiên trên giấy, 48x46cm. Ảnh do nghệ sĩ cung cấp.
Gần đây, Hà Ninh cũng hay kể cho tôi nghe về Country X - một quốc gia giả tưởng là phông nền cho My Land. Country X quy tụ những tư tưởng và giá trị mà anh trân trọng. Đó giống như một hệ tọa độ cá nhân, một khuôn khổ tinh thần giúp anh tự định vị và neo mình lại giữa một thế giới đương đại đang ngày càng trở nên choáng ngợp.
My Land và Country X cùng tồn tại trong một vũ trụ suy tưởng của Hà Ninh nhưng dường như hàm chứa mâu thuẫn nội tại. Nếu My Land tạo ra một thế giới không có gì giống thế giới thật, là vùng đất nơi Hà Ninh có thể quyết định mọi yếu tố thì ở Country X lại tồn tại nhiều giá trị và biểu tượng có thật trong thực tế.
Như Ninh chia sẻ, nghệ thuật của anh không theo đuổi chủ nghĩa thoát ly. Sự mâu thuẫn tự thân giữa các thành tố trong thế giới quan nghệ thuật của anh chính là cách anh đối thoại với thời cuộc. Nghệ thuật của Hà Ninh phản ánh quan điểm của anh về thế giới thông qua việc không đối thoại, không thuần túy "theo dòng" những câu chuyện đương thời.
Dự án mới nhất của Hà Ninh đang được trưng bày tại Liste Art Fair Basel, Thụy Sĩ, phần nào hé lộ về sự tự chất vấn nói trên. Với lời mời của Tia Sáng, tôi muốn lựa chọn chia sẻ về chân dung của Hà Ninh thông qua một cuộc trò chuyện, vì anh là người có thể gọi tên những mong muốn và quan điểm nghệ thuật của mình. Hội thoại dưới đây không hẳn là một bài phỏng vấn khuôn thước, mà đúng hơn là một buổi hàn huyên giữa những người bạn. Chúng tôi ngồi xuống, lần giở lại hành trình thực hành của Hà Ninh, và cùng nhau bước vào suy tư của anh.
(Nội dung bài phỏng giữ nguyên đại từ nhân xưng giữa người viết và nhân vật để giữ toàn vẹn tinh thần và cảm xúc của cuộc hội thoại)
Lê Thuận Uyên (LTU): Để bắt đầu, tớ muốn Hà Ninh điểm lại 5 dấu mốc mà cậu cho là quan trọng, mang tính định hình thế giới quan cá nhân và ngôn ngữ nghệ thuật của cậu.
Phạm Hà Ninh (PHN): Dấu mốc đầu tiên có lẽ xảy ra khi tớ học hệ chuyên Pháp năm lớp Một. Bọn tớ được học giáo trình như trẻ con Pháp lúc bấy giờ. Trong giáo trình đó, bọn tớ được đọc cuốn sách tập đọc nhập khẩu từ Pháp có tên Une Petite Grenouille (Chú Ếch Nhỏ). Vào thời điểm mà hầu hết bạn bè lớp khác đều học sách đen trắng của Việt Nam, tớ may mắn được sử dụng cuốn sách giáo khoa màu sắc rực rỡ này.
Một hình ảnh trong sách Une Petite Grenouille. Ảnh: Sưu tầm.
Tớ đặc biệt thích cuốn sách đó, và Thông bạn thân của tớ cũng vậy. Chúng tớ học cùng nhau từ lớp Một cho đến lớp Chín. Ngay từ những ngày đầu tiên, bọn tớ đã bắt đầu vẽ lại những hình ảnh trong sách, rồi kế đến là dựa trên cách thức minh họa đó, vẽ tiếp những bản đồ vô cùng chi tiết về một vùng đất tên là Bambo. Vùng đất này được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa hình minh họa từ cuốn sách và các yếu tố (asset) từ một trò chơi điện tử mà cả hai đứa yêu thích, dù đây là game một người chơi và chúng tớ không thể chơi cùng nhau.
"Dự án" Bambo này kéo dài suốt 5 năm tiểu học của bọn tớ. Cả hai đã lưu giữ tất cả những bản vẽ, miêu tả từ súng ống, quân đội, thành lũy, các binh chủng, cho đến việc "cho chúng" giao chiến với nhau - không chỉ trên giấy mà còn vẽ khắp mặt bàn học. Điều đặc biệt là Thông chính là người đầu tiên dạy tớ vẽ, trước khi tớ được tiếp xúc với bất kỳ bài học mỹ thuật bài bản nào. Những bản vẽ Bambo với Thông là một trong những khởi đầu quan trọng nhất trong hành trình sáng tạo.
Một tranh vẽ thế giới Bambo của Hà Ninh và Thông. Ảnh do nghệ sĩ cung cấp.
PHN: Ký ức thứ hai gắn liền với kỳ thi đại học vào trường Đại học Mỹ thuật. Đây là một quá trình thi kéo dài và căng thẳng. Tớ vẫn nhớ rõ đó là một ngày hè, khi hầu hết bạn bè đã hoàn thành các kỳ thi đại học khác, tớ vẫn miệt mài chuẩn bị cho chặng cuối.
Ấn tượng mạnh mẽ nhất đến từ khoảnh khắc mở cánh cửa phòng thi: bên trong là một không gian trống rỗng, nhưng lại tạo ra âm vang đặc biệt, trần nhà cao khiến âm thanh lan tỏa như trong một nhà hát. Đó là một trải nghiệm về không gian, âm thanh và ánh sáng hoàn toàn bất ngờ và tuyệt đẹp mà tớ chưa từng thấy trước đây.
Tuy nhiên, vẻ đẹp đó chỉ kéo dài vài phút đầu tiên. Ngay khi các thí sinh bắt đầu vào phòng, không gian lập tức biến thành một "bãi chiến trường" đúng nghĩa. Mọi người tranh giành nhau những vị trí tốt nhất để đặt giá vẽ, đôi khi dẫn đến cả cự nự. Là người từng học trong một lò luyện thi đông đúc, tớ cũng hiểu rõ sự cạnh tranh khốc liệt này, nơi ai cũng muốn giành lợi thế cho mình.
PHN: Mốc tiếp theo đến sau khi tốt nghiệp khi tớ đã trải qua một giai đoạn không muốn tiếp tục làm nghệ thuật. Tớ cảm thấy nghệ thuật chưa thực sự mang lại giá trị thiết thực cho cuộc sống, và khi nhìn vào những người đang hoạt động trong giới lúc bấy giờ, tớ không thấy mình có một vị trí rõ ràng hay muốn đi theo con đường đó. Thế là, cùng với vài người bạn, tớ quyết định mở quán cà phê Tầng Trệt Cosmo tại số 10 Khúc Hạo, ở cạnh Lăng Bác.
Trong quá trình vận hành quán cà phê, tớ đã có một khám phá quan trọng. Một quán cà phê có vô vàn hệ thống cần quản lý: từ thanh toán, tính lương nhân viên, cung cấp đồ uống, điều hòa, mạng, bếp, kiểm tra ca, nguyên vật liệu cho đến hợp đồng thuê nhà, thuế má, an ninh... Tớ không phải là người định hướng phong cách đồ uống và phục vụ của quán, nhưng là người trực tiếp thiết lập và vận hành toàn bộ guồng máy này. Đấy là lúc tớ nhận ra sở trường của mình: tư duy thiết lập hệ thống.
Tớ cũng nhận ra cả sở đoản nữa. Người bạn làm cùng tớ là người rất quyết đoán, làm việc dựa trên trực giác. Cô ấy có biệt tài nhìn ra một quán cà phê có thể hoạt động thành công hay không, hoặc khách hàng sẽ thích loại cốc nào trong số hàng trăm mẫu mã tương tự ở Bát Tràng. Cô ấy cũng rất tự nhiên với những người xung quanh nên rất được yêu mến. Tớ không được trời phú cho sự quyết đoán, tự nhiên và tự tin như thế, nên phải dựa nhiều vào các nguyên tắc được xây dựng để tin là mình đúng. Đấy là điều đã ảnh hưởng rất nhiều tới My Land.
PHN: Sự kiện thứ tư đánh dấu giai đoạn tớ ở Mỹ. Tớ sang vào tháng Tám [năm 2016], nhưng phải đến tháng Mười một mới thực sự cảm thấy cô đơn. Tiếng Anh khi ấy chưa đủ tốt, và tớ nhanh chóng nhận ra người Mỹ không mấy kiên nhẫn với những ai diễn đạt thiếu mạch lạc. Ở Việt Nam, tớ đã quen với những cuộc trò chuyện triết lý kiểu "ông cụ non", nhưng vốn tiếng Anh lúc đó không cho phép tớ tạo ra những kết nối như vậy. Thế là tớ thường xuyên cảm thấy lạc lõng.
Các tác phẩm do Hà Ninh tạo ra trong thời gian tham gia chương trình lưu trú Skowhegan, Mỹ, năm 2018. Ảnh do nghệ sĩ cung cấp.
Trong bối cảnh đó, một con ruồi lớn xuất hiện trong căn phòng vào kỳ nghỉ lễ, khi mọi người đều về quê và mọi cửa hàng đều đóng cửa. Tớ đã dành thời gian quan sát con ruồi ấy - nó gần như trở thành một người bạn.
Rồi con ruồi cũng chết sau một tuần. Chắc chắn rồi vì xung quanh mọi thứ quá sạch. Cái chết của nó cho tớ thấy một sự khốc liệt của một vùng đất mà tớ không thuộc về. Tớ nhận ra sự khác biệt lớn so với Việt Nam, nơi cộng đồng thường có xu hướng quan tâm và hỗ trợ lẫn nhau, còn nước Mỹ thì không chờ ai cả. Xã hội này có thể "bỏ qua" một người khác một cách thản nhiên. Điều này không tốt cũng chẳng xấu, nhưng tớ chưa bao giờ hết bất ngờ trước sự khác biệt văn hóa này. Tớ đã bảo quản xác con ruồi tới tận bây giờ, cất giữ nó như một kỷ niệm đặc biệt.
PHN: Dấu mốc thứ năm là khi tớ gặp vợ tớ bây giờ. Trong những khoảnh khắc cô đơn trước đó, tớ luôn nghĩ mình sẽ tìm một người có nhiều điểm tương đồng. Nhưng Cừu, vợ tớ, lại hoàn toàn khác biệt ở mọi khía cạnh. Đây không phải là một câu chuyện tình yêu lãng mạn theo kiểu "một nửa tìm thấy một nửa hoàn hảo", mà là một nỗ lực mà đến giờ tớ vẫn không hiểu vì sao lại thành công, bởi lẽ về mặt logic, mối quan hệ này dường như không thể tiếp diễn được.
Với một người quen thiết lập hệ thống, với tớ điều này chỉ có thể được giải thích là sâu thẳm trong tiềm thức, giữa hai người đã có một "duyên" nhất định. Hệ thống chính là công cụ giúp mối quan hệ đi xa và bền vững hơn mà thôi.
Sống với một người khác mình, tớ cảm giác được nhìn cuộc sống bằng hai đôi mắt thay vì một. Tớ thấy cuộc sống có chiều sâu hơn. Các tác phẩm nghệ thuật của tớ cũng vì thế mà thay đổi rất nhiều.
LTU: Tớ biết cậu lần đầu tiên là nghe "huyền thoại" về một cuốn sách luyện thi do Hà Ninh chấp bút. Đối với tớ, nó vừa mang chút tinh nghịch, lại vừa thể hiện một tinh thần cạnh tranh cao, như thể muốn 'thâm nhập' và kiểm soát hệ thống. Thậm chí, việc này còn được xem như một cách cậu đang định hình lại chính hệ thống giáo dục và hệ thống chấm điểm. Hà Ninh có thể chia sẻ về câu chuyện đằng sau cuốn sách thú vị này không?
PHN: Thời điểm viết cuốn sách đó, tớ hoàn toàn nghiêm túc, không mang tinh thần 'nghịch ngợm' như cậu hình dung. Hồi đó tớ luôn bị mọi người quở trách và đánh giá vì cách suy nghĩ không giống ai. Lúc đó tớ nghiện những sách chữa lành và học làm giàu. Một trong những cuốn sách đó bày cho tớ cách viết sách để mình cảm thấy có giá trị hơn, vừa có ích cho mọi người, vừa có thể kiếm được nhiều tiền.
Năm đó tớ 18 tuổi, vừa thi xong Yết Kiêu và đỗ cao. Tớ đã biết mình không thể trượt vì tớ được huấn luyện cho kỳ thi này từ năm 10 tuổi. Nếu như thầy Lai Thành, người tớ học vẽ từ năm lên 10 đến năm 17 tuổi, trang bị cho tớ 'nội công', nền tảng cơ bản, thì thầy Phạm Huy Hùng, người tớ học trong một năm rưỡi cuối, lại củng cố được kỹ thuật để vượt qua các kỳ thi. Tớ dành mùa hè năm đó để viết cuốn Sách tham khảo Luyện thi Hình họa vào các trường Mỹ thuật [NXB Mỹ thuật, 2011].
Cốt lõi của cuốn sách chính là phương pháp mà tớ đã học được từ thầy Hùng - một người vốn xuất thân từ ngành y, nên cách dạy của thầy vô cùng khoa học. Phương pháp của thầy sử dụng hình học để giúp cả những người không có năng khiếu vẫn có thể vẽ hình họa chuẩn. Với nền tảng toán học và hình học tốt, tớ đã tiếp thu phương pháp này rất nhanh, tự tin rằng mình sẽ không trượt kỳ thi.
Cuốn sách được phát triển chủ yếu từ phương pháp của thầy Hùng - tớ ước tính khoảng 70% là công sức của thầy và chỉ có 30% là công sức của tớ bổ sung. Khi soạn cuốn sách, dù có xin phép thầy trước khi viết, tớ đã quên không ghi nhận thầy một cách rõ ràng. Tớ dùng bút danh Phạm Hà Gia.
LTU: Logic đó! Mỗi người có một logic riêng. Tiếp theo, tớ muốn hỏi về những bức tranh thời kỳ đầu của Hà Ninh. Tớ thấy chúng rất khác so với phong cách hiện tại. Tớ nhớ có lần đến nhà cậu, và được nghe chia sẻ về sự "phẳng" trong tranh của cậu. Hà Ninh có thể nói rõ hơn về điều này không? Đây có thể là một điểm thú vị mà độc giả sẽ quan tâm, đặc biệt để hiểu hơn về cá tính nghệ thuật của cậu.
Phạm Hà Ninh. Mất điện (2010), sơn dầu trên toan, 45x60cm. Ảnh do nghệ sĩ cung cấp.
PHN: Đầu tiên tớ phải chia sẻ về ảnh hưởng của thầy Lai Thành và sự giằng co giữa không gian 2D và 3D trong hội họa. Tớ bắt đầu học vẽ với thầy Thành từ rất sớm và trong một thời gian dài. Thầy Thành được biết đến là một họa sĩ vẽ tranh cổ động bậc thầy. Ngôn ngữ tạo hình và cách nhìn hình mảng đặc trưng của thầy đã in hằn lên cách xử lý hội họa từ bé, đến mức giờ đây tớ khó phân biệt đâu là của mình, đâu là ảnh hưởng từ thầy.
Khi thầy Thành vẽ tranh giá vẽ theo lối ánh sáng cổ điển, thầy vẫn có thói quen tính toán rất kỹ về hình mảng, pha trộn giữa phong cách tranh cổ động, lối vẽ hiện thực lãng mạn của các họa sĩ Đông Dương, và chút hàn lâm kiểu Nga. Những bức tranh sơn dầu nổi tiếng thường có chiều sâu thăm thẳm, phối cảnh rõ ràng. Tớ nghĩ thầy cũng muốn tạo ra độ sâu ấy, nhưng vì cũng là một họa sĩ tranh cổ động, thầy lại bị giằng co bởi phương pháp vẽ phẳng. Việc vừa tạo chiều sâu vừa chặt chẽ về mảng hình vốn dĩ là một sự mâu thuẫn. Trên tranh thầy, sự giằng co ấy hiện lên rất chân thật.
Những ảnh hưởng này đi vào tớ qua các bài giảng và bài tập nghiêm ngặt của thầy. Một mặt, thầy đòi hỏi sự khắt khe đến từng khoảng hở nhỏ. Mặt khác, thầy lại yêu cầu chúng tớ vẽ những tấm toan lớn với chiều sâu "không tưởng", lấy các danh họa làm ví dụ. Việc học một thứ dường như bất khả thi trong ngần ấy năm quả là một hành trình đầy thử thách. Hoặc bạn bỏ cuộc, hoặc khả năng chịu đựng của bạn tăng lên. Và tớ đã qua được 8 năm.
Khi vào trường đại học, tớ vẫn bị giằng co bởi yếu tố "phẳng" này. Tớ không rõ liệu đó là do ảnh hưởng từ thầy Thành hay do tớ chơi game điện tử nhiều mà sự "phẳng" ấy trở nên rất tự nhiên. Trong khi đó, tớ thấy các anh khóa trên có một chiều sâu rất tự nhiên trong tranh. Khi cùng họ đi thực tế, tớ hiểu rằng họ nhìn cánh đồng, bờ đê và thực sự cảm nhận được chiều sâu. Còn tớ, chiều sâu ấy chỉ là một dạng "thính phòng" giả lập, dễ bị bóp vặn và nhào nặn.
LTU: Thế cậu xử lý mâu thuẫn này ra sao?
PHN: Tớ luôn mặc cảm với sự "phẳng" này cho đến khi tốt nghiệp. Khi đó, tớ đã tìm ra một giải pháp. Vào thời điểm đó, phong cách Pop Art của Trung Quốc khá phổ biến, với đặc điểm là các đồ vật có chiều sâu nhưng nền lại rất phẳng. Tớ đã áp dụng điều đó vào tác phẩm của mình, tạo ra một phiên bản Pop của riêng mình và tạm thời không còn phải giải quyết vấn đề chiều sâu theo cách bài bản.
Phạm Hà Ninh. Cuộc chiến trên mái (2015), sơn dầu trên toan, 0.4x2.2m. Ảnh do nghệ sĩ cung cấp.
Trong thời gian ở Mỹ, tớ bắt đầu tìm đến việc vẽ bản đồ. Bản đồ là một không gian đặc biệt, vừa có thể phẳng vừa có thể có chiều sâu. Những bản đồ đầu tiên của tớ khá phẳng, nhưng khi về Việt Nam, chúng lại trở nên sâu hơn. Hiện tại, tớ nghĩ tác phẩm của tớ có nhiều chiều sâu, nhưng là chiều sâu theo kiểu "layer" (chồng lớp). Tớ không còn cảm thấy ức chế hay mâu thuẫn nữa, và có thể "sống" với bức tranh của mình một cách tự nhiên trong không gian sáng tạo của riêng mình.
LTU: Nhưng trước đây, chính những sự vật lộn đó có phải đã dẫn đến việc cậu tạo ra hệ thống các quy luật, để lèo lái và định hình thế giới của chuỗi tác phẩm 'My Land'?
PHN: Trước khi đi Mỹ, tớ không có những quy luật rõ ràng như vậy trong tranh. Sau khi sang Mỹ, tớ bắt đầu tiếp xúc nhiều hơn với nghệ thuật ý niệm. Trước đó, tớ coi nghệ thuật ý niệm như "dị giáo". Tớ nghĩ nhiều họa sĩ Việt Nam khi lần đầu sang Mỹ đều dễ bị thu hút bởi nó, vì đó là một điều mới mẻ, một mảnh đất màu mỡ để gieo trồng ý tưởng. Nhưng tớ nhận thấy, nghệ thuật ý niệm cần phải có ngôn ngữ tiếng Anh mới phát triển được, tiếng Việt chưa thực sự có đủ từ ngữ để diễn đạt trọn vẹn. Bởi phong trào ấy không đi ra từ hệ thống ngôn ngữ và xã hội của chúng ta.
Khi chuyển sang vẽ bản đồ, tớ đã tìm ra cách để các tác phẩm của mình chảy trôi trong một ý niệm nhưng lại không nằm trong dòng chảy lịch sử và diễn ngôn của nghệ thuật ý niệm phương Tây. Tớ vẫn đi theo hướng xây dựng hệ thống - một mặt đó có thể là bản chất tự nhiên của mình, nhưng mặt khác đó cũng là sự chủ động không để tác phẩm của tớ bị kẹt vào lịch sử nghệ thuật phương Tây.
Giai đoạn này, tớ cũng nhận ra vẽ (drawing) mở ra nhiều khả năng cho mình hơn. Nó cho phép tớ vừa cụ thể vừa trừu tượng, vừa có một hệ thống ý niệm rõ ràng lại vừa hàm chứa được tự sự. Bản đồ vừa có hệ thống vừa có tính thẩm mỹ, đây là một bước chuyển mình mà tớ cho là một quyết định chủ động, không ngẫu nhiên, và tớ rất tự hào về nó. Quyết định này không hề dễ dàng vì xung quanh tớ lúc đó không ai đi theo hướng này cả.
Hà Ninh sáng tác trong xưởng. Ảnh: Hoàng Thắng
Xuất phát điểm là những bản đồ, nhưng khi về Việt Nam, đặc biệt là sau COVID-19, ý tưởng này đã phát triển thành một dự án "world-building" (kiến tạo thế giới), bao gồm cả yếu tố game và nhiều thứ khác nữa.
LTU: Tớ muốn hỏi về cách tiếp cận "world-building" của Hà Ninh, đặc biệt là động lực cá nhân trong việc tạo ra một thế giới và cách Hà Ninh xử lý yếu tố thẩm mỹ cho nó. Tớ muốn chia sẻ với độc giả rằng thao tác của cậu rất khác biệt - không chỉ về hình thức mà còn ở cách thức cậu xử lý tác phẩm. Điều gì là điều thúc đẩy tự thân của cậu?
PHN: Tớ là một người có xu hướng tò mò rất nhiều thứ và cảm thấy thoải mái với sự phức tạp. "World-building" mang lại cho tớ quyền kiểm soát - nó giống như một trò chơi mà tớ có thể tự định nghĩa mọi thứ, thậm chí cả thời gian. Không ai có thể can thiệp hay áp đặt. Mong muốn này xuất phát từ việc tớ quan sát thấy các nghệ sĩ xung quanh mình thường chịu áp lực lớn từ một hệ thống bên ngoài chi phối. Ví dụ, khi học Thạc sĩ, người ta luôn yêu cầu tác phẩm phải có những từ khóa nhất định, phải đối thoại với các diễn ngôn hay vấn đề đương thời. Tớ không đồng tình với nhiều diễn ngôn nghệ thuật hiện nay, và tớ sợ rằng nếu mình không có sự toàn quyền kiểm soát trong tác phẩm của mình, tớ sẽ không thể làm nghệ thuật được nữa.
Tớ vốn cho rằng mình không quá yêu nghệ thuật như nhiều nghệ sĩ khác có thể sống chết với nó. Với tớ, nếu không kiểm soát được nghệ thuật, tớ sẽ không làm nó nữa. Việc kiểm soát cách tác phẩm được hình thành, ít nhất là ý nghĩa nội tại của nó, là cách để tớ có thể tiếp tục thực hành nghệ thuật một cách tự do.
LTU: Nhảy cóc về lại hiện tại nhé?! Đây là câu hỏi cuối cùng của tớ ngày hôm nay. Cậu đang trưng bày tại Liste Art Fair Basel uy tín tại Thụy Sĩ. Tớ hiểu là qua trưng bày cá nhân này, cậu đang muốn đặt một vấn đề rất khác. Cậu có thể chia sẻ thêm về "Reflections of Polaris" (tạm dịch: Phản chiếu của Bắc Đẩu) không?
Trưng bày cá nhân của Hà Ninh tại Liste Art Fair Basel, Thụy Sĩ, từ ngày 15-21/6/2026. Ảnh: Phòng tranh A+ Works of Art (Malaysia)
PHN: Triển lãm Reflections of Polaris mang trong mình một thông điệp xoay quanh khái niệm "dịch chuyển" (displacement). Sự dịch chuyển là một chủ đề rất được quan tâm hiện nay trong nghệ thuật đương đại, do những trào lưu di cư và toàn cầu hóa. Nhưng tớ thấy là sự dịch chuyển khiến tớ cảm động nhất lại không nằm ở những thứ đang di cư vật lý theo nghĩa thông thường, mà là ở những thứ đã quyết định không di cư, đã quyết định ở lại, đã "cắm dùi" ở một nơi không bao giờ thay đổi. Những thứ này phải chịu cái kiếp suốt đời thích nghi trong một thế giới không có gì đứng yên.
Tớ nhận thấy mình khá lạc lõng ngay trên chính quê hương Việt Nam, nhưng tớ vẫn nặng tình với mảnh đất này và những người ở đây. Điều trớ trêu là tớ đã quyết định ở đây, nhưng lại không cảm thấy mình thực sự thuộc về nơi này. Đây là một dạng thức "dịch chuyển" mà tớ nghĩ ít người quan tâm. Tớ tin rằng không chỉ riêng mình tớ có cảm giác này: có những người không còn tìm thấy sự tham chiếu hay đồng điệu tại đây, nhưng vẫn giữ những tình cảm sâu nặng. Điều này tạo nên một "nguồn sống" chỉ mang tính một chiều. Tớ tiếp nhận những tác động từ môi trường xung quanh, nhưng khi tớ chuyển hóa nó thành ý tưởng và muốn truyền tải ra bên ngoài, thì lại gặp phải sự hẫng hụt, không tìm thấy hồi đáp. Mọi người thường nghĩ di cư là phải đến châu Âu hay Mỹ, nhưng với tớ, "di cư trong tâm tưởng" mới là dạng thức di cư sâu sắc nhất, và nó khó giải quyết hơn nhiều, bởi vì đây chính là quê hương mình.
LTU: Cảm ơn Hà Ninh đã dành thời gian chia sẻ với tớ và độc giả của Tia Sáng!
Tháng Sáu, 2026.