Một startup Việt giới thiệu công nghệ, giải pháp lưu trữ năng lượng. |
Năm 2009, hiệp định song phương về đối tác đổi mới sáng tạo (IPP) giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Ngoại giao Phần Lan được ký kết. Một hội thảo đã được tổ chức sau đó hai tháng tại Hà Nội để khởi động dự án này. Kể từ đó, cụm từ: "Đổi mới sáng tạo - Innovation" được sử dụng và trở nên phổ biến trong cộng đồng kinh doanh khởi nghiệp và trong xã hội.
Đổi mới sáng tạo trở thành từ khoá (keyword) trong hầu hết các tham luận tại các hội thảo chuyên ngành và hiện đã trở thành một trong những tiêu chí hàng đầu trong thang đo của sự phát triển bền vững của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Sau 15 năm nhìn lại (2009 - 2024), chúng ta (Việt Nam) đang ở đâu trong hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu và điều gì còn thiếu trong hệ sinh thái đó? Bản sắc (identity) của hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam là gì?
Báo cáo "Chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu năm 2024" vừa mới được công bố bởi StartupBlink cho thấy chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam đã tăng hai bậc từ vị trí thứ 58 (2023) lên 56 (2024). Thương mại điện tử, công nghệ tài chính, giải pháp doanh nghiệp và dịch vụ công nghệ thông tin là những lĩnh vực phát triển mạnh và thu hút nhiều nhà đầu tư. VNG, VNPAY, Momo, Sky Mavis trở thành các kỳ lân công nghệ, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có vị thế về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Đông Nam Á, ngang hàng với Indonesia và Singapore. Cùng với đó, Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh đều nằm trong nhóm 1,000 thành phố có chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp cao nhất trên toàn cầu. Các con số trên là tích cực và ấn tượng.
Theo thống kê từ Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ (NATEC), Việt Nam hiện có khoảng 3.800 công ty khởi nghiệp (startup). Hơn 200 quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital) đang hoạt động và đầu tư tài chính cho các startup tại Việt Nam. Khoảng 20% trong số đó quỹ đầu tư nội địa.
Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia (Vietnam National Innovation Center - NIC) được xây dựng để thúc đẩy kết nối các nguồn lực trong và ngoài nước (nhất là về chuyên gia và đầu tư tài chính) để dẫn dắt mô hình tăng trưởng truyền thống sang mô hình dựa trên khoa học và công nghệ.
Tất cả các con số nói trên đều mang tới một tín hiệu rất tích cực về môi trường Đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp tại Việt Nam.
Tiếc là, những con số ấn tượng trên không nói lên được hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam có những đặc trưng hay bản sắc gì, khác biệt và vượt trội ra sao so với các trung tâm đổi mới sáng tạo khắp nơi trên thế giới. Cộng đồng khởi nghiệp của chúng ta thu hút nguồn đầu tư tài chính từ đâu và đang giải quyết những vấn đề mũi nhọn nào của cộng đồng và xã hội. Làm thế nào để hệ sinh thái ấy trở lên khác biệt, trở nên cạnh tranh và bền vững hơn?
Đây đều là những câu hỏi khó và không dễ trả lời chính xác các câu hỏi này. Bài viết này không đưa ra các khuyến nghị hay giải pháp, mà tập trung vào những vấn đề hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam đang còn thiếu.
Năng lực nghiên cứu (Research) và đổi mới sáng tạo (Innovation) trong hệ thống giáo dục Đại học: Theo lý thuyết chung đã được thừa nhận rộng rãi, vai trò của các đại học, trường đại học, và viện nghiên cứu phải là trung tâm cung cấp tri thức và ý tưởng công nghệ mới, nơi có năng lực tạo ra tri thức mới và ý tưởng đổi mới sáng tạo.
Sứ mệnh của giáo dục bậc cao là đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, theo đó đổi mới sáng tạo được hiểu là các tổ chức này phụng sự xã hội thông qua các hoạt động chuyển giao tri thức, công nghệ và kỹ năng mới để tạo ra các giải pháp giải quyết các vấn đề xã hội.
Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa hình thành các trường Đại học nghiên cứu (research intensive based university) thực sự. Phần lớn nhân sự trong các đại học hiện nay đều tập trung thời gian cho sứ mệnh căn bản nhất là hoạt động giảng dạy. Điều này có nghĩa là nguồn lực tài chính và chuyên môn dành cho nghiên cứu và phát triển rất hạn chế, khiến chúng ta không có đủ thành quả nghiên cứu (research outcomes) làm đầu vào cho các hoạt động đổi mới sáng tạo và tạo ra các doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên công nghệ mới.
Khi đó, các trường đại học không có năng lực đổi mới sáng tạo thì khoa học và công nghệ không trở thành lực lượng sản xuất và động lực của sự phát triển. Sự thiếu vắng các công ty khởi nghiệp với hàm lượng tri thức kỹ thuật cao (deep tech) như quang điện tử, robot và thiết bị bay không người lái, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo và vật liệu tiên tiến là hệ quả của việc không có một hệ thống nghiên cứu mạnh mẽ trong các trường đại học và viện nghiên cứu.
Rất nhiều ý tưởng, công ty khởi nghiệp tại Việt Nam dựa trên những sản phẩm, dịch vụ đã có ở những nơi khác. Hầu hết các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam chỉ tập trung thị trường trong nước do không có lợi thế về công nghệ để cạnh tranh tại các thị trường quốc tế, không có những sản phẩm, dịch vụ khác biệt và đáp ứng nhu cầu của người dùng ở quy mô lớn, cũng như chưa giải quyết được bài toán khó, hoặc có những phát minh, sáng chế vượt trội.
Nguồn nhân lực chất lượng cao với kỹ năng toàn diện: Mặc dù Việt Nam có lực lượng lao động trẻ, đông đảo và có kỹ năng kỹ thuật tốt, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường và các nhà đầu tư, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao.
Các kỹ sư và nhà khởi nghiệp nắm vững chuyên môn và kỹ thuật nhưng thiếu kỹ năng quản trị con người và tài chính. Năng lực làm việc tại các dự án khởi nghiệp liên ngành (cross-domain) còn hạn chế.
Nhận thức của nhiều đơn vị về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo còn thấp, dẫn đến việc không được đầu tư đầy đủ về nguồn lực. Việc giáo dục và đào tạo về khởi nghiệp chưa được chú trọng đúng mức trong các trường đại học, cao đẳng dẫn đến thiếu hụt kỹ năng và kiến thức cần thiết cho các nhà sáng lập.
Ngoài ra, động lực và văn hoá khởi nghiệp chưa thực sự hình thành do nhiều rào cản về tính ưu tiên trong vận hành của các đơn vị, vốn đầu tư, công nghệ và pháp lý.
Nguồn vốn đầu tư cho các dự án khởi nghiệp giai đoạn đầu: Nhiều startup gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư giai đoạn hạt giống (seed funding) và giai đoạn tăng trưởng (growth stage).
Đa số các quỹ đầu tư tập trung vào các doanh nghiệp đã có kết quả rõ ràng, trong khi đó các dự án mới khởi đầu thường khó tiếp cận vốn. Việc thiếu các Proof-of-Concept Funds cho các dự án ở giai đoạn đầu khiến cho việc gọi vốn ngày càng trở nên khó khăn và các nhà đầu tư rất thận trọng với quyết định giải ngân.
Nhiều startup tiềm năng không thể lớn mạnh và tạo ra giá trị kinh tế do thiếu vốn vì không đủ khả năng đáp ứng được các tiêu chí lựa chọn và cấp vốn của các quỹ đầu tư. Do dòng tiền đầu tư trở nên khan hiếm nên các nhà đầu tư và các quỹ ngày càng trở nên thận trọng trong việc tìm kiếm, giải ngân, đàm phán và rà soát thẩm định.
Mạng lưới kết nối và hỗ trợ: Các mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp, như vườn ươm doanh nghiệp, các chương trình tăng tốc (accelerator), và các hiệp hội ngành nghề đang được mở rộng nhanh chóng tại nhiều tổ chức giáo dục, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, chưa có nhiều mô hình thực sự mang lại hiệu quả, thậm chí nhiều mô hình thiếu nguồn lực, thiếu chính sách rõ ràng và đang hoạt động chồng chéo. Các chủ thể hỗ trợ khởi nghiệp đang hoạt động rời rạc, thiếu gắn kết và thiếu tính tổng thể.
Mạng lưới này cần được củng cố và mở rộng để cung cấp nhiều cơ hội hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và tiếp cận nguồn lực. Nguồn tài trợ cho các dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hiện nay chủ yếu cung cấp từ các tổ chức quốc tế và không được thiết kế một cách có hệ thống, dẫn đến đầu tư lẻ tẻ và thiếu quy hoạch. Rõ ràng, chúng ta đang có hạn chế về tầm nhìn, khả năng kết nối và năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Startup Việt Nam vẫn tập trung vào thị trường nội địa và chưa có chiến lược rõ ràng để vươn ra thị trường quốc tế. Khả năng cạnh tranh toàn cầu và xây dựng thương hiệu quốc tế là một trong những yếu tố quan trọng còn thiếu. Tuy nhiên, chúng ta chưa xây dựng được một bản sắc (identity) của các công ty khởi nghiệp tại Việt Nam.
Mặc dù các nhà khởi nghiệp đã có thể tiếp cận nhiều hơn tới các chương trình tài trợ, hỗ trợ kỹ thuật, và kết nối với các tổ chức quốc tế, tuy nhiên họ không đáp ứng được các tiêu chí lựa chọn khắt khe và khó tiếp cận nguồn vốn đầu tư.
Chính sách thành lập các công ty khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong trường đại học:Các công ty spin-off, hay doanh nghiệp tách ra từ các viện nghiên cứu hoặc trường đại học, đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ và tri thức từ môi trường học thuật sang thị trường.
Các công ty spin-off là yếu tố then chốt trong hệ sinh thái đổi mới, thúc đẩy sự phát triển kinh tế dựa trên tri thức và tăng cường sự kết nối giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn với bản chất đổi mới đột phá, từ đó thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp mới.
Chúng giúp chuyển đổi các kết quả nghiên cứu và phát minh trong trường đại học thành các sản phẩm, dịch vụ thương mại có giá trị. Điều này thúc đẩy việc ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu khoa học và tăng cường đóng góp của nghiên cứu vào nền kinh tế.
Việc thành lập các công ty trong trường đại học (spin-off) hiện đang gặp phải nhiều rào cản khác nhau. Các quy định pháp lý liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp liên kết với trường đại học, thường phức tạp và đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt.
Cơ chế nhân sự là rào cản lớn nhất khi Luật Doanh nghiệp (2020) không cho phép công chức, viên chức thành lập và vận hành doanh nghiệp. Trong khi đó, các tổ chức đại học không đủ nguồn lực tài chính để thuê đội ngũ bên ngoài để điều hành doanh nghiệp, trong khi các giảng viên lại thiếu hụt về thời gian, kinh nghiệm, và kỹ năng kinh doanh.
Việc quản lý xung đột lợi ích chưa có hệ thống dẫn đến xung đột lợi ích giữa các nhà nghiên cứu, giảng viên, và trường đại học. Chi phí ban đầu để thành lập và vận hành một công ty, bao gồm chi phí cho cơ sở vật chất, nhân lực, và phát triển sản phẩm.
Các nhà nghiên cứu và giảng viên thường thiếu kinh nghiệm trong việc kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, và phát triển sản phẩm thương mại hóa. Xác định và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ giữa trường đại học và các cá nhân sáng tạo có thể phức tạp và gây tranh cãi.
Kết luận: Để khắc phục những thiếu sót này, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan chính phủ, nhà đầu tư, trường đại học và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp để xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh mẽ, toàn diện và bền vững hơn. Trong đó một loạt câu hỏi lớn cần tìm kiếm câu trả lời như như vấn đề tăng chi tiêu ngân sách cho R&D, chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo dựa trên công nghệ cao, tăng cường và quản lý hiệu quả các quỹ nghiên cứu, cân bằng phù hợp giữa các lực lượng thị trường và chính sách của nhà nước trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo; vai trò của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong hệ thống ĐMST quốc gia; xây dựng cách tiếp cận mới về văn hóa nghiên cứu, trong đó có việc việc chấp nhận rủi ro cũng như hoàn thiện hệ thống pháp lý theo hướng khuyến khích các đối tượng trong hệ sinh thái tham gia khởi nghiệp.
Bài đăng KH&PT số 1367 (số 43/2025)
TS. Phạm Huy Hiệu