Vì chỉ có con người mới biết khóc trước cái đẹp
Quốc bảo kể về hành trình đạt đến phong hiệu Quốc bảo của một 'onnagata' hay diễn viên nam đóng vai nữ trong kịch kabuki. Ảnh: GKIDS
Sân khấu phủ tuyết trắng. Người nghệ nhân được công nhận là 'Quốc bảo' trẻ nhất của Nhật Bản đã ngoài 60 tuổi, khoác lên mặt lớp phấn trắng dày cộp, nhảy múa điên cuồng. Ánh đèn càng sáng khi chiếu vào người, thì cái bóng đổ ra càng sâu thẳm.
Kikuo - trong hình hài của nàng tiên hạc - rũ người trong tư thế "quái vật tuyệt mỹ" hiểm hóc, nhỏ một giọt nước mắt, nhìn lên ánh đèn sân khấu mà thốt lên: "Thật đẹp".
Tôi rơi nước mắt. Ba tiếng đồng hồ cho một bộ phim chính kịch về một loại hình nghệ thuật xa lạ với người Việt vẫn dường như vẫn chưa đủ - không khán giả nào đứng dậy ngay, dù phim đã hết.
Phản ứng khóc trước một tác phẩm nghệ thuật, bề ngoài tưởng chừng như một khoảnh khắc yếu đuối mang tính cá nhân, thực chất lại là kết quả của một chuỗi các phản ứng sinh hóa đã được lập trình qua hàng triệu năm tiến hóa, được nhào nặn bởi các định chuẩn văn hóa hàng thế kỷ, và được đóng gói, phân phối hoàn hảo bởi các mô hình của nền kinh tế học trải nghiệm hiện đại.
Quốc bảo đã đẹp đến phát khóc như vậy.
Dưới lăng kính nền kinh tế trải nghiệm
Trong kỷ nguyên số, cái đẹp đã trút bỏ lớp áo choàng xa cách của nghệ thuật thuần túy để bước vào một cuộc thương mại hóa khốc liệt, nơi cảm xúc con người được định lượng thành từng vạch sinh lời.
Sự chuyển dịch ngoạn mục này được vận hành trơn tru qua mô hình "nền kinh tế trải nghiệm" - một hệ sinh thái giăng mắc tâm trí khách hàng bằng trục tọa độ bốn chiều kích (mô hình 4E). Ở đó, mọi rung động mỏng manh nhất đều bị hút vào một chuỗi giá trị có thể đong đếm.
Chiều kích đầu tiên là giáo dục (education). Khách hàng ngày nay không còn hài lòng với vị thế của một người quan sát thụ động mà muốn trực tiếp tham gia vào quá trình trải nghiệm. Thông qua sự can dự chủ động, họ tiếp nhận tri thức, rèn luyện kỹ năng và biến những hiểu biết mới mẻ thành lớp phù sa bồi đắp cho bản sắc cá nhân.
Những khán giả, như người viết bài, đi từ hiểu biết số 0, đến một hình dung nhất định về nghệ thuật Kabuki, chưa nói đến việc hàng trăm ngàn người Nhật đã đăng ký tham gia học các lớp vỡ lòng môn nghệ thuật đã bốn thế kỷ này sau khi xem phim.
Khi hiện thực trở nên quá tải và ngột ngạt, nền kinh tế trải nghiệm lập tức mở ra cánh cửa thứ hai: thoát ly (e - escapism). Nó cung cấp một liều thuốc tê hoàn hảo - những hệ sinh thái giả lập hoặc không gian tách biệt hoàn toàn với trần thế. Con người chủ động lao mình vào đó, tự nguyện đánh mất quyền kiểm soát thực tại để được "đi vắng" khỏi chính cuộc đời đang rạn nứt của mình. Ba tiếng đồng hồ là quá dài cho một thế hệ những người đã quen với nhịp 8s của phim do AI tạo ra hay 15s của một clip Tiktok, nhưng lại đủ ngắn cho một cuộc tị nạn tâm hồn.
Đồng hành cùng sự trốn chạy là chiều kích thẩm mỹ (e -esthetics). Ở đây, cá nhân lùi lại, đóng vai trò của một người thụ hưởng tĩnh lặng. Họ để bản thân trôi nổi giữa một không gian được thiết kế hoàn mỹ đến từng chi tiết - từ mảng khối kiến trúc, nếp gấp của ánh sáng đến những dải âm thanh vi tế. Họ chiêm ngưỡng sự lộng lẫy ấy một cách thụ động, không can dự, không phá vỡ, chỉ để cái đẹp tự nó thẩm thấu qua da thịt.
Cuối cùng, vòng lặp được khép lại bằng tính giải trí (e -entertainment). Không đòi hỏi sự suy nghiệm nhọc nhằn hay giằng xé nội tâm, chiều kích này chỉ khẽ khàng ve vuốt bề mặt của hệ thần kinh. Thông qua những kích thích giác quan êm ái và thụ động, nó mang đến thứ khoái cảm nhẹ nhàng nhưng dai dẳng.
Bốn chiều kích ấy đan cài vào nhau, dệt nên một ma trận tinh vi của thời đại mới: nơi cái đẹp không còn để tôn thờ, mà để tiêu thụ, thao túng và sinh lợi không ngừng.
Quốc bảo phá kỷ lục phòng vé ở Nhật Bản suốt 22 năm nay.
Một vĩ thanh cho... múa bóng rỗi
Một câu hỏi cốt lõi được đặt ra khi cơn địa chấn Quốc bảo quét qua phòng vé: Tại sao khán giả Việt - những người vốn hoàn toàn xa lạ với lề thói ngặt nghèo của sân khấu Kabuki hay cấu trúc máu lạnh của thế giới ngầm Yakuza - lại rơi nước mắt, thổn thức và bị ám ảnh sâu sắc đến vậy?
Sự rung cảm mãnh liệt mang tính tập thể ấy vô tình dội lại một vĩ thanh đầy day dứt cho... múa bóng rỗi của chúng ta.
Nghệ nhân múa bóng rỗi trong màn múa dao. Nguồn: FB Nguyễn Nhật Khang
Khi quyết định đi xem lại Quốc bảo lần thứ nhì, tôi vượt qua được tất cả những kỹ thuật thao túng tâm lý không biết cố tình hay vô ý mà những người làm phim đã tạo ra, và cứ miên man nghĩ về múa bóng rỗi, một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian trong các lễ cúng Bà ở Nam Trung bộ và Nam bộ.
Nghệ nhân múa bóng rỗi trong màn múa chén bông. Nguồn: FB Nguyễn Nhật Khang
Tôi nhớ hình ảnh những nghệ nhân dân gian - những cô bóng, bà bóng, cậu bóng (nam giới mặc trang phục nữ khi biểu diễn) - không mấy được tôn trọng, lặng lẽ và nhẫn nại ngồi cắt giấy và xếp thành những tháp vàng mâm bạc lung linh huyền ảo. Tôi nhớ cách mà họ vô cùng thành tâm thắp nén hương trước bàn thờ trước giờ diễn dù bàn thờ chính là một phần của sân khấu. Tôi đã nổi hết da gà khi thấy họ chỉ dùng phần trên của cơ thể, từ vai trở lên, để thực hiện bao nhiêu là kỹ thuật phức tạp vì niềm tin "múa dâng bà chỉ được dùng những bộ phận tôn kính nhất". Nếu nghệ thuật này, kèm theo câu chuyện về thuở người Việt khai hoang về đất phương Nam tôn kính những người bảo hộ, được kể lại bằng ngôn ngữ khác, thì chắc đã... khác.
Nghệ nhân múa bóng rỗi trong màn múa mâm. Nguồn: FB Nguyễn Nhật Khang
Di sản bản địa của chúng ta cũng cuộn chảy những thân phận bi tráng và sự uốn mình quặn thắt của các kiếp tằm nhả tơ. Thế nhưng, chúng vẫn đang lầm lũi cạn kiệt sinh khí dưới tư duy bảo tồn tĩnh lặng. Hiện tượng Quốc bảo là một lời đáp trả xác đáng: di sản chỉ thực sự sống khi nó được tái hiện qua lăng kính của nền kinh tế trải nghiệm để khơi dậy sự thấu cảm đương đại, thay vì nằm yên chờ được nhang khói suy tôn.