Ngược dòng lịch sử, giai đoạn 1962 - 1971, công nghiệp Hàn Quốc tăng trưởng mạnh, trong khi nông nghiệp sụt giảm đều. Sau hai kế hoạch 5 năm, thành thị Hàn Quốc càng phát triển đối nghịch với nông thôn, nơi đại bộ phận nông dân vẫn sống trong nghèo nàn và trì trệ.
Trước tình hình đó, Hàn Quốc quyết tâm phát triển nông nghiệp để lập lại thế cân bằng với công nghiệp. Trong một lần đi chỉ đạo khắc phục thiên tai, Tổng thống Park Chung Hee phát hiện ra rằng giải pháp để phát triển nông thôn Hàn Quốc chính là tạo cho được tinh thần chủ động của người dân, bằng cách huy động sức mạnh cộng đồng tại mọi làng xã. Từ đó hình thành phong trào xây dựng làng mới bao gồm ba giai đoạn: xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao thu nhập, hoàn chỉnh hệ thống dịch vụ phúc lợi xã hội.
Thành công của phong trào Saemaul vượt xa mong đợi, với 70% dân số ở nông thôn có thu nhập cao bằng đô thị chỉ sau 10 năm, nên được gọi là "phép màu nông thôn Hàn Quốc". Tinh thần cộng đồng của phong trào này còn được chính người dân thành phố học tập.
Ông Lê Minh Hoan phát biểu tại diễn đàn Hợp tác Kinh tế Saemaul Toàn cầu, TP.HCM, 12/9/2026. Ảnh: BTC
Sáng 12/9, tại diễn đàn khoa học quốc tế Hợp tác Kinh tế Saemaul Toàn cầu 2026 tại TP.HCM, ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhắc lại chi tiết Phong trào Làng mới khởi lên ở Hàn Quốc vào thời điểm nông thôn nước này còn nghèo hơn nhiều vùng quê Việt Nam bây giờ. Phong trào đi kèm ba từ khóa nói về quan hệ nội bộ của một cộng đồng: cần cù, tự lực, hợp tác. Cần cù là chuyện của tôi với đất, tự lực là chuyện của làng tôi với sự trông chờ của gia đình, và hợp tác là chuyện với người hàng xóm gặp mỗi ngày.
Từng đến tận nơi khởi nguồn của phong trào ở Hàn Quốc, ông kể, điều ông ấn tượng nhất là người dân ở đó tin rằng chính mình có thể làm cho quê hương tốt lên.
Nhiều năm trước, "làm cho quê hương tốt lên" có thể bắt đầu từ những việc rất cụ thể như xây dựng đường sá, nhà cửa, công trình cho ngôi làng. Nhưng theo thời gian, người ta nhận ra rằng phát triển không chỉ nằm ở những gì được xây dựng, mà còn ở việc đánh thức điều gì trong cộng đồng. Xa hơn nữa là câu hỏi: cộng đồng ấy sẽ kết nối với thế giới bằng giá trị gì?
Theo ông Lê Minh Hoan, để trả lời câu hỏi đó, không thể đặt người nông dân ra ngoài hệ sinh thái nông nghiệp, nơi hợp tác xã tổ chức người nông dân làm ra nguyên liệu, doanh nghiệp kết nối thị trường, nhà khoa học cung cấp tri thức, trường đại học đào tạo con người, chính quyền tạo môi trường, người tiêu dùng gửi tín hiệu ngược trở lại.
"Nếu doanh nghiệp chỉ đến mua một lô hàng rồi đi, đó là giao dịch còn nếu doanh nghiệp cùng hợp tác xã tổ chức lại vùng nguyên liệu, cùng nông dân nâng tiêu chuẩn, cùng trường đại học nghiên cứu sản phẩm mới, thì mới là hệ sinh thái," ông nói.
Trong hệ sinh thái này, bên cạnh doanh nghiệp, ông còn đặc biệt lưu tâm đến thành tố trường đại học. "Có một thời, người ta nghĩ tri thức nằm trong trường đại học rồi được ‘chuyển giao’ xuống nông thôn. Ngày nay phải nghĩ rộng hơn: cánh đồng cũng là một giảng đường, ngôi làng cũng là một phòng thí nghiệm và người nông dân cũng là người sở hữu tri thức," ông chỉ ra.
Rồi ông đẩy thêm yêu cầu: trường đại học không chỉ đem tri thức xuống làng, mà còn cần mang những câu hỏi của làng quê trở lại giảng đường.
Ở phần cuối bài phát biểu, ông Lê Minh Hoan đề cập, ngày nay AI dự báo sâu bệnh, cảm biến đo độ ẩm, drone quan sát đồng ruộng, dữ liệu dự báo thị trường. Nhưng liệu AI có tạo ra lòng tin giữa những người nông dân, có khiến các thành viên hợp tác xã cùng quyết tâm giữ một tiêu chuẩn, có khiến doanh nghiệp sẵn lòng chia sẻ rủi ro với người nông dân? Công nghệ, theo ông, suy cho cùng, không thay thế được niềm tin, sự hợp tác và trách nhiệm cộng đồng.
Ông cũng nhấn mạnh một câu hỏi nên được đặt ra đối với các chương trình phát triển nông thôn, đó là điều gì còn lại khi dự án kết thúc - thay vì chỉ hỏi Nhà nước hỗ trợ bao nhiêu, dự án đầu tư bao nhiêu, đối tác tài trợ bao nhiêu. "Nếu còn lại một công trình mà không ai biết vận hành, công trình ấy sẽ xuống cấp. Nếu còn lại một thiết bị mà không có người sử dụng, thiết bị ấy thành vật trưng bày. Và nếu sau một chương trình hỗ trợ, người dân lại tiếp tục chờ một chương trình hỗ trợ khác, thì cái được tạo ra chưa phải là năng lực phát triển," ông bày tỏ.
Ấp Tân Quới Lộ thuộc xã Bình Thành, huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang (cũ) một địa phương phát triển theo mô hình làng mới Saemaul. Ảnh: SGF
Ở Việt Nam, mô hình Saemaul xuất hiện từ đầu những năm 2000 thông qua các dự án hợp tác phát triển do Hàn Quốc hỗ trợ, hướng đến huy động người dân cùng cải thiện hạ tầng, sinh kế và đời sống cộng đồng. Ông Kwak Busung, Trưởng Văn phòng đại diện Quỹ Saemaul tại Việt Nam, cho biết, mạng lưới Saemaul ở Việt Nam hiện có 15 làng nằm rải rác từ Thái Nguyên, Bắc Ninh đến Quảng Trị, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Cần Thơ, Hậu Giang (cũ), Đồng Tháp...
Các dự án thí điểm cho thấy những kết quả rõ nét ở cấp cộng đồng: cải thiện hạ tầng, tăng năng suất và thu nhập, và quan trọng hơn là thử nghiệm các cách phát triển dựa vào sự tham gia và tự chủ của người dân.
Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM thậm chí còn vận hành một Trung tâm Phát triển Nông thôn Saemaul Undong, trên nền tảng hợp tác giữa trường và Quỹ Saemaul. Trung tâm hoạt động đến nay đã được 10 năm, chuyên nghiên cứu, đào tạo, tư vấn và triển khai các chương trình phát triển nông thôn, đồng thời đóng vai trò cầu nối đưa kinh nghiệm Saemaul của Hàn Quốc vào Việt Nam.
Trong khi các đại biểu phát biểu bên trong hội trường, bên ngoài 14 gian hàng đã được dựng xong từ sớm: 8 gian của doanh nghiệp Hàn Quốc từ TP Daegu và tỉnh Gyeongsangbuk; 6 gian của phía Việt Nam, có sản phẩm OCOP và sản phẩm của các làng theo mô hình Saemaul.
Saemaul đến Việt Nam sớm hơn và theo một cách hơi khác so với OCOP - mô hình mỗi làng một sản phẩm có xuất xứ từ Nhật Bản. Một mô hình bắt đầu từ cộng đồng, còn một mô hình bắt đầu từ chủ thể sản xuất. Nhưng cả hai đều hướng tới phát huy nguồn lực tại chỗ, nâng cao năng lực của người nông dân và tạo ra giá trị kinh tế bền vững cho nông thôn.