![]() |
Vì lý do gì chiêng đồng trở nên một vật thiêng, trong khi điều đó lại không thấy thể hiện ở các loại cồng chiêng được làm từ các loại vật liệu khác, mặc dù chiêng đồng xuất hiện muộn hơn ?
Báo cáo kết quả khai quật di chỉ Lung Leng (xã Sa Bình, huyện Sa Thầy) do Viện Khảo cổ học (thuộc Viện Khoa học Xã hội VN) phối hợp với Sở VH - TT tỉnh Kon Tum thực hiện bắt đầu từ năm 2001 đã đưa ra một nhận định "cực hot" : Trên hữu ngạn sông Sê San cách đây từ một ngàn rưỡi đến ba ngàn năm, vùng này đã từng là một trung tâm luyện kim đúc đồng của Tây Nguyên. Và quan trọng hơn, trung tâm này có quan hệ kỹ thuật với những trung tâm luyện kim đúc đồng khác, trước hết là với Đông Sơn (Thanh Hóa). Nằm dưới cốt 510 mét, các di vật tìm được gồm khuôn đúc và xỉ đồng ở lớp dưới, các lò luyện sắt ở hai lớp trên. Kết quả phân tích cho thấy người Lung Leng khi luyện sắt có hàm lượng cao (72%) đã biết phối liệu với các chất trợ dung. Điều này phù hợp với thực tế ở một số vùng cư dân bản địa Bắc Tây Nguyên, mặc dù ở một số tộc người không có truyền thống nghề đúc đồng nhưng họ vẫn biết để cái chiêng có âm sắc thanh, mịn màng và có độ vang xa, cần thiết phải pha trộn với một tỷ lệ nào đó giữa hổn hợp đồng đỏ, đồng đen hoặc vàng. Riêng loại chiêng có pha đồng đen của người Tà Ôi được coi là vật quý gia bảo.
Trong một số mộ táng thuộc di chỉ vùng lòng hồ thủy điện Pleikrông cũng thuộc phạm vi di chỉ Lung Leng, vật chôn theo gồm các vật dụng bằng đồng hoặc sắt như rìu, dao, vòng kiểu Đông Sơn bên cạnh bình gốm hình con tiện, văn ấn mép sò, tô ánh chì kiểu Sa Huỳnh. Điều này chứng tỏ thời kỳ đó đã có sự giao lưu giữa cư dân Tây Nguyên với hai trung tâm văn minh lớn lúc đó ở đồng bằng.
Tóm lại có thể hình dung như thế này : lần đầu tiên tiếp cận với kỹ thuật đúc đồng, những cư dân Tây Nguyên ở Thời đại Kim khí cách đây ít nhất một ngàn năm trăm năm đã thật sự bị "sốc" bởi một loại nhạc cụ có thể đánh cho một tiếng vang xa khắp xứ, đánh cho ma quỷ mê mải nghe đến quên làm hại con người (Sử thi – khan Dam San). Chiêng đồng đã tạo ra một thứ thanh âm mà trước đó các loại chiêng được làm từ tre, nứa, gỗ, đá không làm sao có được. Đối với những tộc người đa thần giáo, một loại nhạc cụ như thế có lẽ phải do thần linh ban tặng mà thôi. Hơn nữa, trống đồng do những di dân Đông Sơn mang vào Tây Nguyên thời đó vẫn giữ nguyên ý nghĩa của một linh vật trong các lễ hội, hiệu lệnh xuất trận trong các cuộc chinh chiến. Điều đó không thể không tác động đến tư duy sử dụng nhạc cụ của các tộc người Tây Nguyên.
Thực tế lịch sử đã khẳng định như thế: di sản cồng chiêng Tây Nguyên hiện nay là kết quả của một quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa của các tộc người Tây Nguyên với các dân tộc Kinh, Lào, Campuchia, Chămpa. Trong đó có những giá trị quá khứ (bao gồm cả ý nghĩa của các loại vật liệu chế tác ban đầu) được giữ nguyên, những giá trị tinh thần biến đổi (không tùy tiện mang cồng chiêng đánh khắp nơi chẳng hạn) và cả những giá trị được bổ sung, sáng tạo mới. Dù thế nào thì cồng chiêng Tây Nguyên chỉ có ý nghĩa là những di sản sống trong điều kiện nó thỏa mãn nhu cầu tâm linh của những người đã làm ra và sử dụng nó.
![]() |
Môi trường diễn xướng của cồng chiêng đã bị hủy hoại như thế nào, có lẽ chỉ cần nhìn qua thực trạng làng quê xã Êa Bông (huyện Krông Ana, Daklak) qua lời kể của chính một người trong cuộc là Tiến sĩ Buôn Krông Tuyết Nhung, giảng viên Đại học Tây Nguyên. Hiện nay rừng đầu nguồn của Êa Bông đã bị phá trụi hoàn toàn. Bến nước (hay còn gọi là nguồn nước ngọt) của 9 buôn người Êđê , được coi là nơi trú ngụ của thần linh và là địa điểm tổ chức lễ Cúng bến nước, đã biến mất. Các khu mộ địa, nơi tổ chức lễ Bỏ mả, bị lấn chiếm bởi các rẫy cà phê đến mức không còn đủ mặt bằng để thực hiện các nghi lễ tang ma. Trong khi đó thì vai trò của các già làng, chủ buôn, chủ bến nước cũng như những người còn hiểu biết những luật tục cổ chưa bao giờ được chính quyền địa phương coi trọng.
UNESCO chấp nhận chiêng đồng có thể vì họ nhận ra yếu tố thần linh không thể thiếu trong loại nhạc cụ này. Nếu đúng như thế thì lời giải cho bài toán bảo tồn và phát huy những giá trị đích thực của loại nhạc cụ đã trở thành di sản này sẽ là: hãy giữ gìn và phát triển những tộc người Tây Nguyên đa thần giáo. Nếu không, những nỗ lực khác là vô nghĩa.

