Trong triển lãm Một thập niên Hiện thực (Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, 21–27/1/2026), giữa nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với hội họa hiện thực, ba tác phẩm Cơn mưa hạ của Phạm Bình Chương, Sóng sánh chợ phiên của Lê Thế Anh và Sao băng của Nguyễn Văn Bảy tạo nên trong tôi những điểm dừng thị giác đặc biệt. Phía sau ấn tượng về năng lực tạo hình, chúng gợi ra một nền tảng chung sâu hơn: mỗi tác phẩm, theo cách riêng, đều đặt lại câu hỏi về điều kiện tồn tại của hội họa hiện thực trong bối cảnh đương đại.
Từ trải nghiệm trực tiếp với ba bức tranh này, một vấn đề dần hiện ra rõ ràng hơn. Ở thời mà chức năng ghi nhận thế giới ngày càng được chuyển giao cho công nghệ hình ảnh, hội họa hiện thực còn có thể tự biện minh bằng kỹ thuật hay không, hay kỹ thuật chỉ thực sự có ý nghĩa khi được tổ chức như một cấu trúc tư duy.
Trong lịch sử nghệ thuật hiện đại, hội họa hiện thực luôn tồn tại trong trạng thái lưỡng tính. Nó ở trung tâm vì gắn trực tiếp với câu hỏi nền tảng của hội họa: mối quan hệ giữa hình ảnh và thế giới. Nhưng từ khi nhiếp ảnh xuất hiện, hiện thực đồng thời được xem như một phần lãnh địa mà công nghệ đảm nhiệm. Theo đó hình thành một quan niệm giản lược: hội họa hiện thực bị đồng nhất với năng lực sao chép, và giá trị tác phẩm được đo bằng độ chính xác hình thể, ánh sáng hay chất liệu.
Cách hiểu này bỏ qua một khác biệt căn bản. Nếu nhiếp ảnh cố định một cấu trúc thời gian đã hoàn tất, thì hội họa cho phép thời gian tiếp tục được cấu thành trong hành vi nhìn. Qua lớp sơn, nhịp bút và độ dày bề mặt, người xem không chỉ tiếp nhận hình ảnh mà phải lần theo quá trình hình ảnh được tạo nên. Một bức tranh hiện thực không vận hành như bằng chứng thị giác. Nó vận hành như một trường lực thẩm mỹ, nơi ánh sáng, bố cục và chất liệu được tổ chức để làm chậm nhịp nhìn, buộc người xem ở lại với hình ảnh. Từ đó, hội họa hiện thực rời khỏi chức năng mô phỏng thuần túy để trở thành một hình thức tư duy về thời gian và sự hiện diện.
Phạm Bình Chương. Cơn mưa hạ, sơn dầu, 90x120 cm, 2025. Ảnh: TGCC
Theo mạch suy tư này, ba tác phẩm được chọn bàn thể hiện ba cách tổ chức và suy tư về thời gian khác nhau. Ở Sao băng, thời gian xuất hiện như một khoảnh khắc bùng sáng rồi tan biến. Ở Sóng sánh chợ phiên, thời gian được giữ lại trong độ lặng của đời sống con người. Ở Cơn mưa hạ, thời gian dường như lắng xuống trong ký ức đô thị. Với cả ba trường hợp, thời gian là yếu tố cấu trúc chi phối cách hiện thực được cảm nhận và được nghĩ về.
Trong Cơn mưa hạ, Phạm Bình Chương xây dựng hiện thực như một trường khí quyển ký ức. Không gian được tổ chức như một tổng thể liên tục, làm mềm đi ranh giới giữa tiền cảnh, trung cảnh và hậu cảnh. Mưa xuất hiện như một hiện tượng, thấm đẫm vào kiến trúc, ánh sáng và nhịp sống. Bảng màu trầm, các lớp sơn mỏng chồng lên nhau, ánh sáng tiết chế và không có điểm nhấn kịch tính khiến toàn bộ không gian vận hành như một thời gian kéo dài. Ở phía phải dưới tấm bạt là một nhóm vài người đàn ông ngồi trên những chiếc ghế nhựa thấp, mặc trang phục đời thường, tư thế khép, hơi cúi, nghiêng nhẹ về phía bàn ăn. Không có cử chỉ lớn, không có phản ứng kịch tính, không ai hướng ánh nhìn ra cơn mưa. Họ tồn tại trong mưa như trong một điều quen thuộc của đời sống. Hiện thực ở đây là trầm tích ký ức đô thị, nơi kỹ thuật trở thành phương tiện tổ chức một dạng thời gian dày và chậm.
Lê Thế Anh. Sóng sánh chợ phiên, sơn dầu, 100x120 cm, 2025. Ảnh: TGCC
Nếu Cơn mưa hạ làm tan chủ thể vào môi trường tri giác, Sóng sánh chợ phiên của Lê Thế Anh lại tái tổ chức hiện thực quanh các quan hệ xã hội cụ thể. Họa sĩ không mô tả sự đông đúc của chợ. Toàn bộ cấu trúc thị giác của tác phẩm này hướng vào cặp vợ chồng đang cân vịt. Bố cục được tổ chức chặt chẽ quanh khối nhân vật trung tâm, với trục đứng của cơ thể và thanh cân tạo nên một cấu trúc ổn định. Hoa sĩ xử lý nhân vật chính bằng lớp sơn đầy và chặt, trong khi nền phía sau giản lược và mở hơn, tạo ra sự phân cấp hiện diện rõ ràng.
Ở đây, hiệu ứng sóng sánh không đến từ chuyển động mạnh. Nó là những dao động vi mô trong sắc độ và bút pháp. Ánh sáng ổn định, không cao trào, khiến khoảnh khắc lao động được giữ lại như một trạng thái tiếp diễn. Quan hệ giữa hai nhân vật được biểu hiện chủ yếu qua hướng nhìn không trùng nhau, sự khác biệt nhẹ trong trục cơ thể và phân bố sắc độ cùng độ hoàn thiện bề mặt. Hiện thực trở thành một cấu trúc quan hệ, nơi thời gian vận hành bền bỉ như những dao động nội tại chứ không phải những chuyển động mạnh của hình thể.
Nguyễn Văn Bảy. Sao băng, sơn dầu, 120x120 cm, 2025. Ảnh: TGCC
Trong khi hai tác phẩm trên đặt con người vào môi trường hoặc mạng lưới tương tác, Sao băng lại thực hiện thao tác rút gọn triệt để, đưa hiện thực về chiều sâu nội tâm. Nền tranh được xử lý bằng lớp bút pháp dày, gồ ghề và xoắn cuộn, tạo thành một khối ký ức đặc quánh. Trái ngược với nền, nhân vật đứa trẻ lại được vẽ mịn, chặt và kiểm soát cao, làm nổi bật cảm giác mong manh. Sự đối lập này xác lập một quan hệ tồn tại: ký ức luôn dày và nặng, còn con người bên trong ký ức luôn dễ tổn thương. Không gian trong tranh khép kín, chuyển động được tiết chế đến mức gần như triệt tiêu. Dù nhan đề gợi về sự vụt qua, bề mặt hội họa lại làm chậm mọi nhịp điệu, giữ lại một trạng thái tĩnh lặng nội tâm. Sao băng không hiện diện như hình ảnh cụ thể. Nó là những khoảnh khắc chỉ thực sự nhận ra khi đã trôi khỏi hiện tại. Tác phẩm này tái tạo cơ chế của ký ức: dày, mờ, rung và không thể giữ trọn.
Khi đặt ba tác phẩm trong cùng một hệ quy chiếu, có thể nhận ra một chuyển động của hiện thực từ khí quyển ký ức bao trùm, qua cấu trúc quan hệ đang vận hành, đến chiều sâu hiện hữu. Trong tiến trình ấy, hội họa hiện thực dần rời khỏi chức năng tường thuật để trở thành một hình thức tư duy về cách con người tồn tại.
Ở bình diện này, kỹ thuật không phải một hệ thủ pháp trung tính. Làm mềm biên giới hình thể, dựng chắc trục cơ thể hay làm mịn bề mặt đều là những cách định hình kinh nghiệm thời gian. Khi kỹ thuật chỉ nhằm đạt độ chính xác thị giác, nó dừng lại ở năng lực tái hiện. Khi kỹ thuật trở thành cấu trúc của thời gian, hình ảnh vượt khỏi chức năng sao chép và mở ra một không gian suy tư.
Trong bối cảnh hình ảnh bị tiêu thụ với tốc độ ngày càng cao, hội họa hiện thực chỉ giữ được ý nghĩa khi làm chậm tri giác. Hội họa hiện thực không cạnh tranh với công nghệ ở độ chính xác, mà tạo ra những hình thức thời gian trong đó người xem buộc phải ở lại, trải nghiệm và ý thức về điều kiện tồn tại của mình. Ba tác phẩm cho thấy hiện thực không phải là cái có sẵn để được sao chép, mà là cái được cấu thành trong cách thời gian được tổ chức bởi kỹ thuật. Ở đó, kỹ thuật không chỉ là phương tiện biểu đạt mà trở thành chính hình thức qua đó nghệ thuật suy nghĩ về con người và thế giới.