Trong ý nghĩa là sự thể hiện trên quy mô xã hội và mang tính chất tổng hợp của các phương thức tồn tại vật chất, sản xuất tinh thần, giao tiếp xã hội, quản lý xã hội và tái sản xuất sinh học - xã hội, phương thức sống đô thị tiên tiến là các quy phạm không thể thiếu cho việc phát triển văn hóa – xã hội ở đô thị. Nhưng việc xây dựng một phương thức như thế hiện đang gặp nhiều trở ngại, mà nổi bật là quan hệ không bình thường giữa hệ thống tồn tại vật chất và hệ thống tái sản xuất sinh học - xã hội ở nhiều đô thị trong nhiều năm nay. Điển hình là ở TP. Hồ Chí Minh, những thống kê hiện còn cho thấy ít nhất trong thời gian 1954 – 1975, cơ cấu GDP của Sài Gòn khá ổn định với khoảng 5 – 10% là nông nghiệp, khoảng trên 30% là công nghiệp và trên 50% là dịch vụ. Trong thời gian 1975 – 1985, cơ cấu này đã có sự thay đổi quan trọng: Khu vực công nghiệp tăng lên trên 40%, khu vực dịch vụ giảm xuống tương đương với khu vực công nghiệp. Quá trình đổi mới từ 1986 trở đi đã khẳng định cơ cấu mới ấy, nhưng đáng tiếc sự tách rời truyền thống ấy chỉ hứa hẹn một sự trả giá cho thành phố trong tương lai. Cùng với hệ thống các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp ở các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, các khu công nghiệp, khu chế xuất xuất hiện ở thành phố trong gần hai mươi năm nay đã, đang và sẽ còn liên tục gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí, tóm lại là làm giảm chất lượng môi trường sống ở thành phố. Hơn thế nữa, sự hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất ấy đã mở rộng thị trường lao động ở thành phố, nhưng kết quả tất yếu là kích thích sự phát triển đột biến của hệ thống tái sản xuất sinh học – xã hội tức quá trình tăng cơ học về dân số. Cho nên dòng di dân nhập cư từ các nơi đổ về đang tạo ra áp lực ngày càng trở nên quá tải đối với hệ thống cơ sở hạ tầng từ giao thông tới điện nước cống rãnh nhà ở, hệ thống giáo dục – y tế cũng như làm phức tạp thêm tình hình trật tự trị an.
Nếu hình dung đời sống văn hóa ở các đô thị từ 1986 đến nay như một quá trình thay đổi liên tục của tam giác ba đỉnh kinh tế đô thị, môi trường đô thị và quản lý đô thị, thì rõ ràng cái tam giác này luôn luôn bị đỉnh kinh tế kéo lệch ra khỏi sự cân bằng. Việc phát triển kinh tế theo đường hướng công nghiệp hóa cổ điển thu hút di dân nhập cư đã bổ sung cho đô thị một lực lượng lao động đông đảo và khá trẻ nhưng chất lượng rất đáng lo ngại (năm 1999 ở TP. Hồ Chí Minh chỉ có 16,6% lao động có bằng cấp - tay nghề, tỷ lệ này đến cuối năm 2006 là khoảng 30%). Nhìn từ góc độ phát triển kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp như thế dĩ nhiên là một vấn nạn đối với thành phố, nhưng nhìn từ góc độ phương thức sinh hoạt đô thị thì vấn đề còn đáng quan tâm hơn, vì thực tế đã chứng minh có một khoảng cách lớn về trình độ văn hóa, hành vi xã hội và ý thức cộng đồng giữa những di dân "kiếm việc làm" với những di dân "kiếm sống", tóm lại xét trên khía cạnh di dân nhập cư thì việc xây dựng phương thức sống đô thị tiên tiến ở thành phố còn phụ thuộc vào chỗ nó tiếp nhận loại di dân nào nhiều hơn. Rõ ràng ở đây đang tồn tại mâu thuẫn giữa đường lối xây dựng kinh tế với nhu cầu tổ chức xã hội và phát triển văn hóa, và khi nào mâu thuẫn ấy chưa được nhận thức toàn diện và giải quyết triệt để, thì một phương thức sống đô thị tiên tiến đúng nghĩa vẫn chưa thể xuất hiện.
![]() | ![]() |
Phải thừa nhận rằng nhiều năm qua chính quyền các cấp ở một số đô thị đã nỗ lực để hướng tới xây dựng một phương thức sống đô thị tiên tiến trên địa bàn này, dù rằng chưa phải với các biện pháp phù hợp cũng như với một nhận thức thấu đáo. Nhưng một phương thức như vậy cần có những điều kiện pháp lý tối thiểu mới có thể trở thành hiện thực. Cho nên nếu thừa nhận thành phố hiện cần một phương thức sống đô thị tiên tiến, đảm bảo tác động tích cực được tới sự phát triển và quan hệ giữa các hệ thống và quá trình xã hội, trong đó có việc xây dựng ý thức công dân thì một "Quy chế về chuẩn mực trong hoạt động sản xuất, sinh hoạt và quản lý ở đô thị" cho tất cả mọi cá nhân và tổ chức ở thành phố hẳn là một việc cần được tiến hành ngay.

