Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, hiếm có một không gian nào hội tụ nhiều lớp ý nghĩa lịch sử, huyền thoại, chính trị, tôn giáo, học thuật và ký ức đô thị như Hồ Gươm. Đó là một "không gian ký ức", nơi những câu chuyện về Thiên mệnh, sự nghiệp dựng nước và giữ nước, tính chính thống của vương triều, truyền thống khoa cử, tinh thần Đạo học, quá trình thuộc địa hóa-giải thuộc địa và ý thức về Hà Nội như trái tim của quốc gia đã lần lượt chồng xếp lên nhau.
Hồ Gươm không phải ngay từ đầu đã là một biểu tượng hoàn chỉnh. Quá trình ý niệm hóa được kiến tạo qua thời gian. Mỗi thời đại lại đọc lại mặt hồ theo những cách khác nhau. Thời Lê Trịnh đó là không gian của quyền lực vương phủ để kế thừa tính chính danh từ nhà Lê; Triều Nguyễn, nó trở thành một không gian đối kháng của các diễn ngôn về nhà Lê; rồi trong thời thuộc địa, nó trở thành nơi va chạm giữa biểu tượng văn minh phương Tây và truyền thống đánh giặc. Sau năm 1945 và đặc biệt từ năm 1954, Hồ Gươm lại được tái định nghĩa như một biểu tượng quốc gia: biểu tượng của lịch sử, độc lập, hòa bình.
Bởi vậy, muốn hiểu Hồ Gươm hôm nay, không thể chỉ nhìn vào cảnh quan hiện hữu. Cần nhìn nó như một quá trình kiến tạo vốn văn hóa và vốn biểu tượng, trong đó mỗi thế hệ đều bổ sung, diễn giải theo nhu cầu của thời đại mình.
Hồ Gươm. Ảnh: Hữu Quyết/Pexels
1. Từ Thuận Thiên đến huyền thoại kiếm Thanh Thúy
Cho đến nay chưa ai tìm được hai chữ "Hoàn Kiếm", "Hồ Gươm" vào thế kỷ XV-XVI. Lê Thái Tổ/ Nguyễn Trãi cũng không biết đến các từ này khi viết Lam Sơn thực lục (藍山實錄) năm 1431. Nguyễn Trãi không nhắc đến địa danh này trong cuốn Dư địa chí viết năm 1434. Cả mấy chục văn bia Lê sơ hiện tồn cũng trắng băng. Đại Việt sử ký toàn thư (bản của nhóm Phạm Công Trứ năm 1697) thậm chí còn không viết đến "Lục Thủy", "Tả Vọng", "Hữu Vọng". Hình ảnh duy nhất ta có được là bản vẽ bản đồ kinh thành Thăng Long được cho là vẽ thời Hồng Đức, nhưng định bản vào đời sau, với phần của Vương phủ (phủ chúa Trịnh) thế kỉ 17-18. Hoàn Kiếm hồ (还劒湖) là một dải nước sót, thông với sông Hồng ngay ở đoạn bãi Phúc Xá. Xứ Đàng Ngoài của A. des Rhodes (soạn nửa đầu thế kỷ XVII) cũng không nhắc gì đến hồ Hoàn Kiếm.
Dường như, hồ nước này không có gì đặc biệt, nó giống như hàng trăm hồ lớn nhỏ nằm trong đê Hà Nội, thậm chí, vị trí ngoài rìa của nó không cho phép nó cạnh tranh cùng Thái Hồ với Văn Miếu – Quốc Tử Giám đặt giữa đảo, càng không thể sánh với Hồ Tây xuất hiện dày đặc trong chính sử. Vậy câu hỏi lớn đặt ra, huyền thoại "hoàn kiếm" về vua Lê Thái Tổ bắt đầu có từ bao giờ?
Ta lần tìm sử liệu, thấy bản đầu tiên có chép câu chuyện "kiếm Thuận Thiên" trong Lam Sơn thực lục. Bản in sớm nhất hiện tồn của sách này là năm 1676 (Vĩnh Trị 1) bởi nhóm Hồ Sĩ Dương (Hộ bộ Thượng thư). So với truyền bản nhà Lê Sát, có khả năng soạn trước đó, do còn bảo lưu từ "Trẫm" - đại từ xưng hô thứ nhất của Lê Thái Tổ, thì cả hai phiên bản này giống nhau, phần huyền sử không phải của thế kỷ XV, mà có khả năng sáng tác của đời sau, với niên đại cuối hiện biết là 1676. Tóm tắt cốt truyện của "Sự tích Lam Sơn": Lê Lợi xin được thanh sắt của ngư dân Lê Thận, sau lại nhặt được cán gươm ở gốc cây đa có hoa văn rồng hổ và hai chữ ‘Thanh Thúy". Vợ Lê Lợi đồng thời nhặt được một quả ấn, có chữ "Lê Lợi". Toàn bộ chuyện này cùng với chuyện Lê Lợi táng mộ tổ tiên ở xứ Phật Hoàng động Chiêu Nghi, đều là các sáng tác của đời sau, nhưng được sử quan chép bổ sung (lục) ở sau Quyển 1 của Lam Sơn thực lục [1]. Các sử liệu này cho thấy, đến tận nửa sau thế kỷ XVII, chỉ có huyền thoại về Thanh kiếm Thanh Thúy, và ấn tỷ "Lê Lợi" ở trong 2 huyền thoại do người thế kỷ này sáng tác để tăng tính chính thống và củng cố thuyết thiên mệnh của nhà Lê. Chưa có dấu vết nào của trao kiếm, nhận kiếm, và rùa vàng như ta thường biết sau này.
2. Sự trỗi dậy của huyền thoại khi Thăng Long thất thế
Đến thế kỷ 18, người đầu tiên ghi chép về thuyết "hoàn kiếm" là Phạm Đình Hổ (1768 - 1832): "Hồ Tả Vọng: ở phía Đông Nam thành Thăng Long, phía trong La Thành. Đời truyền xưa là một nhánh của sông Nhị. Vua Lê Thái Tổ từng trả gươm cho rùa thần ở đây, nhân đó có tên là hồ Hoàn Kiếm. Về sau là nơi duyệt thủy quân, lại gọi là hồ Thủy Quân. Khoảng thời gian này, chia đắp thành hai hồ, bên bắc gọi là hồ Tả Vọng, bên phía nam gọi là hồ Hữu Vọng [2]. Đoạn trích này dùng nguyên tên "thành Thăng Long" cho thấy, nó được soạn từ trước năm 1802.
Kính Phủ Nguyễn Án trong sách "Vũ trung tùy bút" ghi rằng: "hồ Hoàn Kiếm ở Thăng Long nằm ở mé phường Báo Thiên, thông với nước sông [Hồng], rất rộng rãi, là nơi mà Tiền triều Thái Tổ hoàng đế từng rơi kiếm (坠劒處). Xưa Thái Tổ khởi nghĩa, nhặt được một thanh cổ kiếm. Sau khi được nước, thường đeo bên mình. Một hôm bơi thuyền trong hồ, có con giải (rùa) lớn nổi lên mặt nước, bắn không trúng, bèn cầm kiếm chỉ vào rùa, kiếm liền rơi xuống nước. Rùa lặn theo kiếm. Hoàng đế nổi giận, sai lấp cửa khẩu [nối liền với sông], đắp đê tát cạn để tìm kiếm mà chẳng tìm được. Đời sau nhân tích ấy mà gọi là Tả Vọng và Hữu Vọng. Đến đời Cảnh Hưng, đảo giữa hồ phát sáng rồi lịm. Người đời cho rằng bảo kiếm đã bay đi rồi." [3]
Cầu Thê Húc. Ảnh: Lộc Nguyễn/Pexels
Hai chữ "Tiền triều" cho thấy văn bản được sáng tác sau năm 1802- với diễn ngôn củng cố tính chính thống của Nguyễn triều. Mặc dù, cả Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ (đồng tác giả của cuốn sách) đều là người sinh ra ở thời Lê trung hưng, Phạm Đình Hổ thậm trí còn cư trú nhiều năm ở phường Thái Cực, đều kiến tạo một diễn ngôn về "nhà Lê mất kiếm". Sự đổi giọng của Phạm Đình Hổ cho thấy, khi nhà Lê đang còn, diễn ngôn "trả gươm" đã tồn tại như một huyền thoại. Nhưng khi nhà Lê sụp đổ, nhà Nguyễn lên, ông đã thay đổi chiến lược diễn ngôn dưới những quyền lực của vương triều mới, nhất là sau những vụ án tâm linh khiến cả tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành bị liên lụy, và vài kẻ đã bỏ mạng vì thờ nhầm "ngụy tặc Tây Sơn" [4]. Câu chuyện dân gian "Hồ Gươm" mất kiếm đã được kiến tạo khi Thăng Long mất vị thế Đế đô sau 792 năm.
Độ phổ biến của tích truyện huyền hoặc này được củng cố bởi hàng loạt tác phẩm khác với những ghi chép tương tự như Bắc Thành địa dư chí lục của Lê Chất ("Địa chí Thăng Long – Hà Nội trong thư tịch Hán Nôm", cb. Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên, Nxb Thế giới, Hà Nội. 2007, tr.494), Hoàng Việt địa dư chí lục của Phan Huy Chú (1833, tr.517), Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ của Đặng Xuân Khanh, Hà Nội sơn nguyên phong vực (tr.170).
Hà Nội địa dư của Dương Bá Cung (soạn năm 1852), sau khi ghi việc Lê Thái Tổ chỉ kiếm- mất kiếm còn thêm một số chi tiết: "...., bên trái hồ [Thủy Quân] có cung Khánh Thụy, trong có cảnh non bộ sơn thủy gọi là Đào Tai và Ngọc Bội được làm vào năm Vĩnh Hựu để biểu dương công đánh giặc, trong đó ngọn núi cao nhất tương truyền là đài câu cá của phủ chúa Trịnh. Truyện kể rằng trong hồ có rất nhiều cá to, có con còn đeo cả vòng vàng vòng bạc. Dân gian có kẻ mang đồ sắt lẻn xuống hồ bắt trộm. Đến cuối năm cá chết nổi đầy mặt nước. Chẳng bao lâu sau nhà Lê mất. Đầu đời Gia Long có bài thơ "Kiếm Hồ sạ đẩu" viết rằng: "Sương lạnh bảo kiếm chiếu Cô Tô, Hoàn Kiếm danh lừng tựa Đỉnh Hồ. Giao Long ôm mãi ngàn năm hận, Thất tinh rồng chiếu vẫn bơ vơ." (Hàn yên bảo kiếm chiếu Cô Tô, Hoàn Kiếm lưu danh ức Đỉnh Hồ. Giao tủng ba hàm thiên cổ hận, Long quang ảnh chiếu thất tinh cô) [5]. Rõ ràng, các diễn ngôn được kiến tạo triều Nguyễn đều đi theo một hướng duy nhất: Hoàn Kiếm hiện các điềm gở báo hiệu nhà Lê suy vong. Văn hóa "điềm triệu" đã được sử dụng như một chiến lược truyền thông, để dân gian truyền khẩu câu: "quanh Hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê".
3. Quá trình kiến tạo Hồ Gươm thành biểu tượng văn hiến
Như vậy, bước sang thế kỷ XIX, Thăng Long mất vị thế đế đô, sau khi triều Nguyễn chuyển kinh đô vào Phú Xuân. Thăng Long bị hạ cấp trở thành một đơn vị hành chính: tỉnh Hà Nội, thành Hà Nội chỉ là thành trì cấp tỉnh. Đây là một cuộc sa sút về vị thế biểu tượng. Một vùng đất từng là kinh đô mấy trăm năm phải tìm một cách khác để khẳng định ý nghĩa của mình. Các sĩ phu Bắc Hà, dưới sự ẩn ức của thời thế, đã kiến tạo nên các hệ biểu tượng mới để hoài niệm về tính lịch sử và tính chính thống của Thăng Long xưa: Thăng Long tứ trấn, Thăng Long tứ quán,... [6]
Tranh rùa mang gươm báu ở cổng đền Ngọc Sơn. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên/CC BY-SA 3.0
Trong bối cảnh đó, cảnh quan Hồ Gươm được tái thiết bằng một hệ thống biểu tượng văn hóa gắn với đền Ngọc Sơn, Tháp Bút, Đài Nghiên và những hình tượng thần linh của Đạo học. Công lao của Nguyễn Văn Siêu trong quá trình xây dựng và định hình quần thể này là một thủ pháp kiến tạo văn hóa. Ông đã góp phần làm cho nó trở thành biểu tượng của văn hiến Nho gia. Tháp Bút, với hình ảnh cây bút hướng lên trời với dáng "tả thanh thiên", tạo nên một biểu tượng mạnh. Bút vừa là vũ khí, vừa là một công cụ kiến tạo tri thức của kẻ sĩ. Đài Nghiên gợi nhắc đến văn chương, học vấn và truyền thống khoa cử. Đền Ngọc Sơn, với hệ thống tín ngưỡng đa tầng, nơi giá trị văn chương, học vấn, đạo đức và tín ngưỡng cùng tồn tại và tác hành. Đặc biệt, sự hiện diện của Văn Xương Đế quân – vị thần gắn với học vấn, văn chương – và Khôi Tinh – biểu tượng khoa bảng – khiến không gian này được đọc như một đất thiêng của cử tử. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với Hà Nội thế kỷ XIX. Khi không còn là kinh đô chính trị, Hà Nội tìm cách khẳng định mình bằng một dạng quyền lực khác: quyền lực của văn hiến và tri thức.
Đây chính là một quá trình kiến tạo biểu tượng rất tinh tế. Một thành trì mất vị trí trung tâm chính trị có thể tìm lại vị trí trung tâm bằng ký ức, học thuật, văn hóa và lịch sử. Hồ Gươm trở thành nơi tập trung những lớp ký ức ấy. Vì thế, từ thế kỷ XIX, khi đứng trước Hồ Gươm, người ta đứng trước một không gian nơi võ và văn, chiến tranh và học vấn, Thiên mệnh và Đạo học cùng gặp nhau dưới những đối thoại của các diễn ngôn và quyền lực.
(Kỳ tới: Tháp Rùa và xung đột của những hệ biểu tượng trong thời thuộc địa)
[1] Lê Lợi, Nguyễn Trãi, (1431), Lam Sơn thực lục, Bản Lê Sát, tr.8a-11a, chuyển dẫn bản dịch của Nguyễn Diên Niên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006, tr.189-191.
[2] Phạm Đình Hổ, "Trả lời các câu hỏi về di tích ở Thăng Long", Phạm Đình Hổ tuyển tập thơ văn, Trần Kim Anh dịch, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.198-199.
[3] Kính Phủ, "Hồ Gươm", trong Tang thương ngẫu lục, ed. Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, dịch bởi Đạm Nguyên, Cơ sở xuất bản Đại Nam, Sài Gòn, tr.181. Tang thương ngẫu lục, Thư viện Quốc gia, R.89, tr.34b-35a.
[4] Trần Trọng Dương, (2022), "Thần linh dưới quyền lực nhà nước", trong Nam Việt thần kỳ hội lục, NXB Dại học Sư phạm, Hà Nội, tr.20-23.
[5] Dương Bá Cung, Hà Nội địa dư, sđd, 2007, tr.44.
[6] Nguyễn Doãn Minh, "Tứ trấn Thăng Long Hà Nội", NXB KHXH. 2018.