Trong bối cảnh ngày càng xuất hiện nhiều tranh luận về chim Lạc, về nguồn gốc các biểu tượng thiêng của người Việt, cuốn sách Khai nguyên rồng tiên của Nguyễn Mạnh Tiến cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin quan trọng về cách huyền thoại nguồn gốc dân tộc được hình thành.
Với hệ thống tư liệu dồi dào, bao gồm cả cổ sử lẫn các nghiên cứu cận, hiện đại và đặc biệt là phần tư liệu bằng chữ Thái cổ - gồm Quắm tô mương ("sử Thái") và gia phả cổ xưa của các dòng họ lớn người Thái, Khai nguyên rồng tiên của Nguyễn Mạnh Tiến đã tái tạo một cấu trúc ý nghĩa diễn giải bởi triều đình nhà Lê, kết hợp các truyền thuyết của ba tập hợp người Việt - Thái - Mường. Trong đó mang yếu tố "hướng lên núi non" nhấn mạnh vai trò của các cộng đồng miền núi trong việc xây dựng nên hệ thống biểu tượng, huyền thoại chung của Đại Việt.
Sau khi giành lại độc lập, nhà Lê đã phải liên tục tìm kiếm các biện pháp điều hòa mâu thuẫn giữa các khối ý thức hệ tộc người không đồng nhất trong một tình thế liên kết khá mong manh. Vua tôi Lê Thánh Tông đã điều hòa Việt/Kinh với chính trị gốc miền núi Mường-Thái và "biên tập" các tư liệu trước đó, đưa truyền thuyết vào chính sử, viết nên Đại Việt sử ký toàn thư đề cao tinh thần dân tộc, làm nên sức mạnh của quốc gia Đại Việt thời ấy.
Hoa văn chim của người Mường vẽ. Mỹ Hạnh trình bày lại theo hoa văn trong sách "Hoa văn Mường" của Trần Từ. Nhà dân tộc học Trần Từ (Nguyễn Đức Từ Chi) nghiên cứu chỉ ra mối liên kết giữa mô típ hoa văn Mường với hoa văn trên trống đồng Đông Sơn.
Toàn thư có chứa đựng phần Ngoại kỷ kể về tổ tiên huyền hoặc, sự kết hợp Rồng - Tiên với bọc trăm trứng cội nguồn muôn dân. Nội dung này được tạo ra trong chính thời Lê Thánh Tông, chứa đựng những căn nguyên chứ không ngẫu nhiên, cho thấy dường như nhà vua đã cân nhắc, cố gắng tìm cách xây dựng một phả hệ huyền thoại nguồn gốc chung, niềm tin chung trong các nhóm tộc người, bao gồm cơ bản các tập đoàn Việt ở đồng bằng với Mường và Tày - Thái ở miền núi.
Dựa trên nhiều tư liệu khác nhau, Nguyễn Mạnh Tiến chỉ ra mô típ Rồng - Tiên, Rồng - Chim, sự tương đồng giữa "vũ trụ luận Mường", "Thân tộc huyền thoại Thái" với truyền thuyết Lạc Long quân - Âu cơ.
Chính từ đây, cuốn sách giúp ta mở ra một câu hỏi rộng hơn: nếu các mô típ chim tổ tiên hay sự kết hợp giữa chim/tiên và thủy tộc cùng xuất hiện trong cộng đồng chung Việt - Mường - Thái thời ấy, thì liệu ý nghĩa các biểu tượng như chim Lạc có hoàn toàn là sản phẩm kiến tạo muộn của hậu thế, hay chúng đang phản ánh những lớp ký ức văn hóa sâu hơn?
Trái với sử gia Liam Kelley (và phần lớn các học giả ngày nay) cho rằng kỷ Hồng Bàng là sự vay mượn hoàn toàn của những văn bản Trung Hoa, đồng nghĩa với việc triều đình nhà Lê đẩy xã hội Đại Việt theo guồng bánh xe người Hán; thì ngược lại, Nguyễn Mạnh Tiến cho rằng kỷ Hồng Bàng không chỉ chứa các yếu tố Hán hóa (đại diện cho người Kinh) mà còn hòa trộn cả yếu tố miền núi (đại diện cho người Thái-Mường) với tỷ lệ tương đương, trở thành một "sự chuẩn định huyền thoại nguồn gốc dân tộc" đại diện chung cho người Việt.
Hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ, thuộc văn hóa Đông Sơn: Hình chim Lạc đang bay xen kẽ chim mỏ ngắn đang đậu. Mô típ chim Lạc trang trí trên mặt trống đồng là ổn định, trải qua nhiều thế kỷ và mang tính biểu tượng cao. Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
Một trong những đóng góp đáng chú ý nhất của cuốn sách là khái niệm "nghĩa ổn định" được lưu giữ trong ký ức cộng đồng. Điều được các cộng đồng truyền lại qua nhiều thế hệ không chỉ là các sự kiện lịch sử cụ thể, mà là những cấu trúc ý nghĩa giúp họ giải thích nguồn gốc của chính mình. Đây là điều Nguyễn Mạnh Tiến đặc biệt chú ý.
Trích: Sử Thái với đặc điểm không ghi ngày tháng, mang tư duy phi thời gian, nên gây khó khăn đặc biệt cho tư duy kiểu lịch sử của các cộng đồng khác Thái như Việt. Chính tư duy phi thời gian này, đồng thời là việc ghi một cách ước lệ, không trùng khít với tên nhân vật, thời đại, vương triều Đại Việt hay Trung Hoa làm thành một rào cản lớn trong việc theo dõi các biến động trong xã hội Thái trong quá khứ. Tuy thế, sử Thái, ở một góc độ khác nó lại bộc lộ những "nghĩa ổn định" đáng suy ngẫm.
Khái niệm "nghĩa ổn định" này cũng là một gợi ý thú vị để nhìn lại các tranh luận hiện nay về chim Lạc, Rồng, Tiên hay những biểu tượng thiêng khác. Cộng đồng không chỉ lưu giữ các sự kiện lịch sử đã được ghi chép thành văn qua nhiều thế hệ, mà còn giữ một hệ thống ý nghĩa dùng để giải thích nguồn gốc của chính cộng đồng đó.
Hoa văn rồng của người Mường vẽ. Nguồn: Theo "Hoa văn Mường", Trần Từ.
Nói cách khác, ngay cả khi từ khóa "chim Lạc" với tư cách một khái niệm hay biểu tượng dân tộc được định hình khá muộn trong lịch sử học thuật hiện đại, điều đó không đồng nghĩa với việc các mô típ chim tổ tiên, chim gắn với huyền thoại nguồn gốc cũng là những phát minh muộn. Chính các tư liệu Mường, Thái và Việt cho thấy những mô típ ấy đã tồn tại từ rất lâu trong ký ức văn hóa của nhiều cộng đồng cư dân khác nhau.
Không phải chỉ có Việt tộc mới có truyền thuyết trăm trứng trăm con, cha Rồng mẹ Tiên, mà các dân tộc anh em Mường Thái cũng có câu chuyện tương tự.
Sử thi Mường, phần Đẻ đất đẻ nước viết rằng tổ tiên loài người là chim:
Bỗng thấy nứt trứng pỏ
Thấy nở trứng chiếng
Nghe lao nhao tiếng Kinh
Nghe inh inh tiếng Mọn [1]
Người Thái thì có truyền thuyết cặp chim Ốn Tôn:
Đạp nhau như cơm bữa
Nhảy nhau như cơm sáng, cơm chiều [2]
hoặc cho rằng loài người có cha là chim én, mẹ là thuồng luồng.
Đặt các chất liệu này cạnh nhau, ta thấy các mô típ, biểu tượng chim, rồng hay trứng xuất hiện lặp đi lặp lại trong những huyền thoại nguồn gốc của nhiều cộng đồng khác nhau.
Nếu chim Lạc chỉ là một kiến tạo muộn của hậu nhân thế kỷ 19-20, thì điều đó vẫn chưa lý giải được vì sao những cộng đồng không hề biết đến khái niệm "chim Lạc" lại cùng lưu giữ những huyền thoại về chim tổ tiên ở điểm khởi đầu của cộng đồng.
Chính sự lặp lại đó khiến câu hỏi về chim Lạc hay các biểu tượng thiêng khác không thể chỉ tìm trong các tư liệu khảo cổ học hay lịch sử thành văn, mà còn phải truy nguyên trong trí nhớ tập thể và quá trình kiến tạo các biểu tượng, cũng chính là một phần dễ nhận diện nhất của bản sắc văn hóa.
Từ Nho
--
Ghi chú:
[1] Bản kể ở Hòa Bình cho rằng loài người nở từ trứng của chim trống Ây, chim mái Ứa, bản kể ở Thanh Hóa thì viết là chim Tùng và chim Tót. [dẫn lại từ Khai nguyên rồng tiên]
[2] Khai nguyên rồng tiên - Nguyễn Mạnh Tiến