Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) là loại vi khuẩn phổ biến, thường cư trú vô hại trên da hoặc niêm mạc mũi của người khỏe mạnh. Nhưng khi chúng xâm nhập sâu vào máu, phổi hoặc các cơ quan nội tạng khác, sẽ gây ra những ca nhiễm trùng nghiêm trọng. Nhóm đối tượng chịu tổn thương nặng nề nhất là trẻ sơ sinh, bởi hệ miễn dịch của các em vẫn đang trong quá trình phát triển non nớt.
Mọi chuyện càng phức tạp hơn khi tụ cầu vàng đang tiến hóa để kháng lại kháng sinh, đặc biệt là chủng tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA). Methicillin thuộc nhóm beta-lactam, cùng họ với penicillin, nhóm thuốc từng được coi là nền tảng trong điều trị nhiều nhiễm khuẩn. Khi đã kháng methicillin, vi khuẩn thường cũng kháng với phần lớn kháng sinh beta-lactam thông thường.
Vi khuẩn tụ cầu vàng kháng methicillin (màu vàng). Ảnh: National Institute of Allergy and Infectious Diseases.
Mới đây, các chuyên gia từ Đại học California San Diego (Mỹ), Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn và Bệnh viện Nhi đồng 1 TP HCM đã tổng hợp các bằng chứng về điều trị và kiểm soát MRSA tại Việt Nam, đặc biệt là với nhóm trẻ sơ sinh. Nhóm tác giả cảnh báo việc sử dụng kháng sinh chưa hợp lý tạo thêm áp lực chọn lọc kháng thuốc, có nguy cơ tiếp tục thu hẹp các lựa chọn điều trị trong tương lai. Đó là lý do cần sử dụng các thuốc tuyến cuối thật hợp lý để bảo tồn hiệu lực của những thuốc còn tác dụng, trong bối cảnh lựa chọn điều trị vốn đã hạn chế.
Áp lực kháng thuốc gia tăng
Theo nhóm nghiên cứu, dữ liệu giám sát tại 13 bệnh viện giai đoạn 2016-2017 cho thấy khoảng 73% số chủng tụ cầu vàng được phân lập là MRSA. Ở nhóm trẻ sơ sinh, một nghiên cứu tại Cần Thơ ghi nhận tụ cầu vàng xuất hiện trong khoảng 35% trường hợp nhiễm khuẩn huyết sơ sinh, với 89-96% số chủng kháng oxacillin. Oxacillin cũng thuộc nhóm beta-lactam và thường được sử dụng trong xét nghiệm để xác định tình trạng kháng methicillin của tụ cầu vàng.
Trong khi đó, các kháng sinh thay thế cũng dần mất tác dụng. Điển hình là clindamycin một kháng sinh có khả năng ức chế quá trình tạo protein của vi khuẩn – thì tỷ lệ MRSA kháng clindamycin đã lên tới khoảng 58%. Dù bác sĩ vẫn có thể cân nhắc một vài lựa chọn khác cho từng tình huống cụ thể, nhưng rõ ràng số lựa chọn điều trị hiệu quả đã bị thu hẹp đáng kể, vì mỗi lựa chọn đều có giới hạn riêng và không thể đơn giản thay thế cho nhau.
Khi nhiều kháng sinh thông thường không còn hiệu quả, bác sĩ phải dựa vào một số thuốc có khả năng chống lại MRSA. Quan trọng nhất trong số đó là vancomycin. Một số nghiên cứu ghi nhận 100% chủng khảo sát còn nhạy với vancomycin, trong khi dữ liệu giám sát khác ghi nhận chỉ khoảng 2% chủng tụ cầu vàng không nhạy với thuốc này. Do đó, vancomycin vẫn là vũ khí chủ lực cho các ca nhiễm MRSA nặng.
Tuy nhiên, vancomycin không phải là chiếc khiên vững chãi mãi. Việc lạm dụng loại thuốc này có thể tạo ra áp lực chọn lọc, thúc đẩy vi khuẩn tiếp tục tìm cách kháng thuốc. Một dấu hiệu cảnh báo đó là dữ liệu giám sát ghi nhận khoảng 34% số chủng vi khuẩn đường ruột Enterococcus faecium tại Việt Nam đã kháng vancomycin (chủng kháng này được gọi là VRE). Mặc dù đây là loại vi khuẩn khác, song tỷ lệ VRE cao cho thấy ngay cả vancomycin cũng đang chịu áp lực kháng thuốc trong môi trường bệnh viện. Việc sử dụng kháng sinh, trong đó có vancomycin, có thể tạo áp lực chọn lọc thuận lợi cho các chủng kháng thuốc tồn tại và lan rộng
Vì vậy, kiểm soát chặt việc sử dụng vancomycin không chỉ nhằm duy trì hiệu quả điều trị MRSA hiện nay mà còn để hạn chế nguy cơ mất dần một trong những kháng sinh quan trọng đối với các nhiễm khuẩn nặng.
Kiểm tra lại sức khỏe cho bệnh nhi sau phẫu thuật vì nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu. Ảnh: Bệnh viện Nhi Trung ương
Hạn chế tình trạng lạm dụng kháng sinh
Một trong những yếu tố dẫn đến tình trạng kháng thuốc đó là tình trạng kê đơn kháng sinh bất hợp lý. Thống kê tại các bệnh viện cho thấy 67,4% bệnh nhân nội trú được chỉ định dùng kháng sinh, nhưng gần một phần ba trong số đó chưa phù hợp về mặt chuyên môn. Đáng lo ngại hơn, tại TP.HCM, có tới khoảng 90% đơn thuốc cho trẻ khám ngoại trú vì nhiễm trùng hô hấp nhẹ không đáp ứng đúng các tiêu chí hướng dẫn.
Việc siết chặt quản lý kháng sinh trong bệnh viện có thể giúp giảm khoảng 37% ca nhiễm MRSA và cắt giảm gần 20% tổng lượng kháng sinh tiêu thụ mà không hề làm tăng nguy cơ tử vong của người bệnh. Đối với vancomycin, các bác sĩ được khuyến cáo không nên lạm dụng chúng cho những ca bệnh nguy cơ thấp. Việc theo dõi nồng độ thuốc trong máu và chỉnh liều riêng cho từng người bệnh là rất cần thiết để vừa đạt hiệu quả diệt khuẩn, vừa bảo vệ thận và tránh áp lực kháng thuốc. Ở trẻ sơ sinh được dùng kháng sinh theo kinh nghiệm vì nghi nhiễm khuẩn huyết khởi phát sớm, có thể ngừng thuốc sau 36-48 giờ nếu cấy máu âm tính và không có bằng chứng nhiễm trùng khác.
Nhóm nghiên cứu đề xuất Việt Nam cần sớm xây dựng phác đồ điều trị nhiễm khuẩn dựa trên chính dữ liệu vi sinh trong nước thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào hướng dẫn quốc tế. Mỗi cơ sở y tế cần có bảng dữ liệu kháng sinh đồ - tức kết quả cho biết những loại thuốc nào còn có khả năng ức chế các chủng vi khuẩn đang lưu hành tại bệnh viện - để bác sĩ chọn thuốc sát với thực tế vi khuẩn tại bệnh viện mình. Đi kèm với đó, các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn cơ bản như rửa tay, khử trùng môi trường bệnh viện, phân nhóm và cách ly bệnh nhân nguy cơ cao sẽ đóng vai trò then chốt nhằm ngăn vi khuẩn lây lan, từ đó giảm thiểu tối đa nhu cầu phải dùng đến những kháng sinh quý giá như vancomycin.
Kết quả được công bố trên tạp chí Expert Review of Anti-infective Therapy: 10.1080/14787210.2026.2726969