![]() |
Phòng thí nghiệm Trung tâm Nano và năng lượng, ĐHQGHN. Ảnh: Hảo Linh |
Trước năm 2020, cái tên BioNTech vô cùng xa lạ, một công ty chuyên về công nghệ sinh học nằm đâu đó trong số hàng triệu triệu công ty cùng lĩnh vực trên toàn cầu. Nhưng chính công ty vô danh được thành lập vào năm 2008 này đã góp phần tạo ra vaccine dựa trên công nghệ mRNA của Pfizer. Kết quả đó của BioNTech dựa trên nghiên cứu củacác nhà khoa học Uğur Şahin, Özlem Türeci, và Christoph Huber khi nhận được khoản đầu tư hạt giống là 180 triệu Euro từ công ty đầu tư mạo hiểm MIG Capital. Sau đó, vào năm 2013, nhà hóa sinh Katalin Karikó, chủ nhân giải thưởng Nobel Y học 2023, gia nhập BioNTech với tư cách là Phó chủ tịch cấp cao.
Nếu các khoản đầu tư sau này của Pfizer và Chính phủ Mỹ đã biến giấc mơ tạo ra loại vaccine chống đại dịch thành hiện thực trong khoảng thời gian ngắn chưa từng có trong lịch sử thì chính những kiến thức khoa học và bí quyết công nghệ tích lũy hàng thập kỷ là nền tảng cho liệu pháp miễn dịch tiên tiến này. Những know-how độc quyền đó đã đưa các nhà khoa học như Katalin Karikó hay Uğur Şahin, Özlem Türeci trở thành doanh nhân triệu phú sau khi đem lại những sản phẩm vô cùng có ý nghĩa với con người.
Đó là cách KH&CN tạo được tác động xã hội mà nhiều nhà quản lý khoa học Việt Nam vẫn hằng mơ ước. "Thực ra, khoa học chỉ có một cách duy nhất để tạo nguồn thu là thương mại hóa kết quả nghiên cứu mà thương mại hóa không có gì tốt hơn là cho phép họ được lập doanh nghiệp, để chuyển giao chất xám của mình hoặc dùng chất xám đó để mua cổ phần của doanh nghiệp dưới dạng cổ phần hoặc dùng luôn kết quả đó lập doanh nghiệp spinoff", TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN chia sẻ với báo Khoa học và phát triển vào năm 2023. "Thậm chí sau khi hoạt động tốt rồi, người ta có thể bán doanh nghiệp đó rồi quay đi nghiên cứu vấn đề khác, có thể lập một doanh nghiệp mới. Các giáo sư nước ngoài đều làm như thế cả. Họ lập doanh nghiệp, nếu đưa doanh nghiệp lên sàn chứng khoán thì có thể thu được gấp nhiều lần số tiền đầu tư, lấy tiền quay trở lại làm nghiên cứu khác".
Vậy các nhà khoa học Việt Nam có cơ hội làm được điều tương tự? họ có khả năng trở thành doanh nhân ngay trên đất nước mình? Câu trả lời phức tạp hơn người ta tưởng.
Gợi ý gì từ chính sách mới?
Vào tháng 10 vừa qua, một loạt những nghị định mới ra đời với tốc độ nhanh chưa từng có – chỉ năm tháng sau khi Luật KH&CN, đổi mới sáng tạo được Quốc hội thông qua. Nhịp độ gấp rút, sôi nổi của việc xây dựng những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn các hoạt động KH&CN, theo tinh thần chỉ đạo "làm ngày làm đêm", "vừa chạy vừa xếp hàng", "chỉ bàn làm, không bàn lùi", khiến các nhà khoa học, vốn chỉ quen với quá trình xây dựng và thảo luận chính sách rất kỹ lưỡng, cũng cảm thấy ngỡ ngàng. Theo cách đó, các nghị định hướng dẫn và quy định chi tiết một số điều của Luật KH&CN, đổi mới sáng tạo như Nghị định 263/2025/NĐ-CP, Nghị định 267/2025/NĐ-CP, Nghị định 271/2025/NĐ-CP đã mở ra những cánh cửa vô cùng khác biệt, những hành lang hướng dẫn vừa đơn sơ vừa phức tạp, tỏa đi nhiều hướng để tìm cách liên thông thế giới này với xã hội.
Nghị định 271 đã góp phần vào việc tháo gỡ một nút thắt mà bấy lâu các nhà khoa học và quản lý khoa học vẫn lúng túng - xử lý tài sản hình thành sau đề tài KH&CN, dự án R&D có kinh phí từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, việc cởi bỏ này đã đủ đáp ứng những gì thực tiễn cần, hay nói cách khác là "khuyến khích tinh thần doanh nghiệp của nhà khoa học và tinh thần khoa học của doanh nhân" không? |
Nếu hai nghị định 263 và 267 bàn đến các nội dung đã được thảo luận khá nhiều ở Việt Nam, khi tập trung vào các vấn đề tài chính khoa học, quản lý các nhiệm vụ KH&CN, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nhân lực, nhân tài và giải thưởng KH&CN..., thì Nghị định 271 đề cập tới góp vốn công nghệ, một khái niệm mới trong không gian trường đại học, viện nghiên cứu. Văn bản này cho phép trường, viện hoặc nhà khoa học có thể công khai góp vốn bằng công nghệ vào một doanh nghiệp hoặc thậm chí tự lập một doanh nghiệp bằng chính công nghệ mình làm ra, ngay cả khi công nghệ ấy là sản phẩm hình thành từ đề tài KH&CN có kinh phí từ ngân sách nhà nước. Sau khi đã xác lập quyền sở hữu cho nhà khoa học trong Luật Sở hữu trí tuệ và dự án Luật Chuyển giao công nghệ, cùng với Nghị định 271, nhà khoa học có thể trở thành doanh nhân, công khai và trực tiếp đưa các sản phẩm nghiên cứu vào ứng dụng thực tiễn.
Đây chính khái niệm mà những người làm khoa học và cả những người làm quản lý khoa học từng đề cập tới nhiều lần nhưng giờ mới được pháp luật chính thức công nhận. Cách đây đúng 10 năm, tại tọa đàm "Những doanh nhân tiên phong công nghệ sáng tạo trên trang báo Tia Sáng" do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức tại Triển lãm Giảng Võ (Hà Nội), TS. Nguyễn Quân đã chia sẻ "Để tồn tại, doanh nghiệp cần có hai yếu tố, tinh thần doanh nhân và tinh thần công nghệ. Chính sự đóng góp của các doanh nghiệp đã góp phần mở rộng ứng dụng KH&CN vào thực tiễn. Vì vậy, để KH&CN Việt Nam giữ được vị trí thứ ba trong khối ASEAN, không chỉ phụ thuộc vào cộng đồng khoa học mà còn vào cả cộng đồng doanh nghiệp, với những doanh nhân có tinh thần công nghệ. Bộ KH&CN sẽ cố gắng tạo ra cơ chế thông thoáng nhất để doanh nghiệp phát huy được tinh thần này."
Mất một thập kỷ, sau khi được Nghị quyết 57 và Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị mở đường, ý tưởng khuyến khích tinh thần doanh nghiệp của nhà khoa học và tinh thần công nghệ ở doanh nhân mới có cơ hội trở thành hiện thực. Trong nhiều cuộc hội thảo lớn nhỏ, nhiều nhà khoa học đã từng cho rằng cần phải có những đổi mới chính sách để thúc đẩy chuyển giao công nghệ và chuyển giao tri thức tới xã hội. TS Trịnh Thành Trung (Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học, ĐHQGHN) đã không ngần ngại đề cập đến điều này trong cuộc họp về xử lý tài sản hình thành sau nhiệm vụ KH&CN được thực hiện bằng ngân sách nhà nước ở Bộ KH&CN vào tháng 12/2023 "Trong thời gian qua, chúng ta nghe thấy rất nhiều cụm từ ‘kinh tế tri thức’. Vậy tri thức từ đâu? Dĩ nhiên phải từ KH&CN. Nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu và tạo ra bài báo khoa học, quy trình công nghệ, cả hai đều là tri thức và chúng ta áp dụng tri thức đấy vào trong sản xuất kinh doanh và tạo ra tiền thì lúc đó mới gọi là kinh tế tri thức".
Rõ ràng, điều mà những nhà khoa học như TS. Trịnh Thành Trung mong muốn là có những cơ chế chính sách phù hợp để biến tri thức, know-how ở phòng thí nghiệm thành sản phẩm thực, đem lại doanh thu trong thế giới thực.
Những sản phẩm tri thức và tài sản trí tuệ này rút cục đã được nhắc đến một cách trực tiếp trong Nghị định 271. Cụ thể hơn, văn bản này đã xác nhận vốn trí tuệ (intellectual capital) nói chung và vốn công nghệ (technical capital) nói riêng từ khu vực công là các trường viện có thể chuyển giao được và được coi là một dạng vốn đặc biệt để tạo dựng một doanh nghiệp mới. Cùng với việc sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ để công nhận quyền sở hữu công nghệ - sản phẩm thu được từ quá trình thực hiện các nhiệm vụ KH&CN với kinh phí từ ngân sách nhà nước – thuộc về trường viện cũng như nhà nghiên cứu, Nghị định 271 được kỳ vọng sẽ đem lại một bước thay đổi ngoạn mục, khơi thông dòng chảy công nghệ từ trường viện ra ngoài xã hội.
![]() |
Doanh nghiệp khoa học và công nghệ trình diễn sản phẩm trí tuệ nhân tạo. |
Việc công nhận này đã đặt cơ sở để chuyển giao, góp vốn các kết quả nghiên cứu từ đề tài, dự án KH&CN được thực hiện bằng kinh phí từ ngân sách nhà nước, vốn được coi là tài sản công, một khi được xác định giá trị tài sản công khai, minh bạch. Do đó, Nghị định 271 dành hẳn một chương để quy định các loại tài sản góp vốn cũng như cách xác định giá trị tài sản góp vốn (dựa trên quy định pháp luật về thẩm định giá, sở hữu trí tuệ, luật KH&CN, đổi mới sáng tạo...). Điều này làm chúng ta không khỏi liên hệ với Luật Chuyển giao công nghệ - Luật này coi góp vốn bằng công nghệ là một hình thức chuyển giao công nghệ. "Góp vốn bằng công nghệ là một hình thức chuyển giao công nghệ hợp pháp. Trường hợp dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước thì công nghệ góp vốn phải được thẩm định giá theo quy định của pháp luật. Điều này nhằm bảo đảm tài sản công nghệ được định giá chính xác, tránh thất thoát vốn nhà nước", luật sư Nguyễn Văn Phúc, Công ty Luật HM&P, nêu trong tạp chí Luật sư Việt Nam.
Đến thời điểm này, vẫn còn chưa rõ cuộc sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ đang diễn ra có đem lại nhiều quy định thuận lợi để thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ cũng như góp vốn tri thức, vốn công nghệ từ trường viện không song rõ ràng, Nghị định 271 đã góp phần vào việc tháo gỡ một nút thắt mà bấy lâu các nhà khoa học và quản lý khoa học vẫn lúng túng – xử lý tài sản hình thành sau đề tài KH&CN, dự án R&D có kinh phí từ ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, việc cởi bỏ này đã đủ đáp ứng những gì thực tiễn cần, hay nói cách khác là "khuyến khích tinh thần doanh nghiệp của nhà khoa học và tinh thần khoa học của doanh nhân" không? Quá trình chuyển giao công nghệ, tri thức theo cách này thực ra cần những điều kiện gì nữa?
Vẫn còn nhiều khoảng trống
Nhìn ở góc độ tích cực có thể thấy, những triển vọng tươi sáng đang được gợi mở từ các cơ chế, chính sách mới như Luật KH&CN, đổi mới sáng tạo cũng như các nghị định hướng dẫn thực thi luật, trong đó có Nghị định 271. Với sự thay đổi này, Việt Nam mới có điều kiện để hướng tới việc bước vào quỹ đạo thành công của nhiều cường quốc, khi khai thác được hiệu quả tài sản trí tuệ, công nghệ từ trường, viện. Thực tế cho thấy, tại Mỹ, trước khi ban hành Luật Bayh–Dole được thông qua, Mỹ đã tắc nghẽn mạch chuyển giao công nghệ, khiến cho chỉ chưa đầy 5% trong tổng số hơn 28.000 bằng sáng chế được cấp phép thương mại. Luật Bayh- Dole đã cho phép các trường đại học giữ quyền sở hữu các phát minh do các nhà nghiên cứu của trường có được từ các dự án sử dụng nguồn tài trợ từ chính phủ, trong khi trước đây buộc các nhà khoa học (bất kể họ làm việc ở đâu) phải chuyển giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu cho chính phủ.
![]() |
. |
Chỉ có nhà khoa học làm ra công nghệ mới có đủ năng lực làm chủ được cái công nghệ ấy hoặc giải quyết được những vấn đề nó vấp phải, còn để cho người khác dùng sản phẩm công nghệ đó kinh doanh sản xuất thì có thể thất bại. Đó là lý do mà các nhà khoa học nước ngoài muốn tự mình làm doanh nghiệp. TS. Nguyễn Quân |
Liệu những cơ chế chính sách mới, đặc biệt là những văn bản được soạn thảo một cách nhanh chóng, có thể làm được điều mà đạo Luật Bayh- Dole đã làm không? Xác lập ngay một câu trả lời, e rằng quá sớm nhưng dựa trên những vấn đề cốt lõi của chuyển giao công nghệ như định giá tài sản trí tuệ/công nghệ mới, góp vốn, thoái vốn, tổ chức hỗ trợ chuyển giao (TTO), bảo hộ tài sản trí tuệ... và đặt nó vào bối cảnh chung ở Việt Nam thì có thể thấy, còn có rất nhiều khoảng trống quy định đang tồn tại, có nguy cơ làm giảm hiệu quả của chính sách mới được thiết kế và thông qua.
Khoảng trống đầu tiên nằm ở chính bối cảnh Việt Nam. Nhìn rộng ra thì trước đây, quá trình góp vốn vốn bằng tài sản trí tuệ đã diễn ra từ lâu. "Việc góp vốn, liên doanh bằng tài sản trí tuệ (chủ yếu là góp vốn bằng thương hiệu) diễn ra khá sôi động, đi trước các quy định của pháp luật. Từ những năm 1990, các tập đoàn đa quốc gia đã tiếp cận thị trường Việt Nam thông qua việc liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập với các doanh nghiệp trong nước", nghiên cứu sinh Lê Minh Thái (Hutech) viết trên tạp chí Kinh tế tài chính. Tuy nhiên, các "doanh nghiệp Việt thường chỉ chú ý vào giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản hữu hình mà chưa chú ý đến các tài sản vô hình như tài sản trí tuệ". Hệ quả là "việc xác định giá trị, nhượng quyền sử dụng tài sản trí tuệ, góp vốn liên doanh, liên kết... bằng giá trị tài sản trí tuệ đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở Việt Nam đến nay vẫn còn là một khoảng trống".
Từ bối cảnh chung này mà việc áp dụng khái niệm góp vốn trí tuệ, hay vốn công nghệ, trong thực tế không hề dễ dàng, kể cả doanh nghiệp lẫn nhà khoa học. Luật sư Nguyễn Văn Phúc, từ kinh nghiệm từng thực hiện thành công nhiều thương vụ mua bán sáp nhập công ty quy mô lớn, đã chỉ ra bốn khó khăn của góp vốn công nghệ, một hoạt động chịu sự chi phối của ba luật (Luật Doanh nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Chuyển giao công nghệ) trên tạp chí Luật sư Việt Nam, đó là: 1) khó khăn trong định giá công nghệ: Khác với tài sản hữu hình có thị trường rõ ràng, tài sản công nghệ thường khó xác định giá trị do không có giá thị trường sẵn có và giá trị phụ thuộc nhiều vào khả năng ứng dụng tương lai. "Việc định giá công nghệ, tài sản trí tuệ để góp vốn gặp nhiều thách thức: thiếu phương pháp chuẩn, kết quả dễ dao động giữa các hội đồng định giá, rủi ro định giá sai gây thiệt hại và tranh chấp về sau. Đây là rào cản lớn ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tỷ lệ cổ phần của người góp vốn bằng công nghệ trong doanh nghiệp"; 2) Khung pháp lý còn nhiều lỗ hổng và chưa đồng bộ. "Việc thiếu các quy định chi tiết về điều kiện chuyển quyền, thời điểm ghi nhận vốn, xử lý khi quyền công nghệ hết hiệu lực đã gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền lợi các bên; 3) Các thủ tục hành chính phức tạp, kéo dài; 4) Vướng mắc liên quan tới tài chính, thuế, kiểm toán.
Dưới góc độ luật pháp, đặc biệt là Luật Sở hữu trí tuệ, vấn đề góp vốn, phân chia lợi ích và thoái vốn công nghệ/vốn trí tuệ ở một công ty sẽ còn ẩn chứa rất nhiều phức tạp và hệ lụy liên quan đến bảo hộ tài sản trí tuệ mà chúng ta sẽ cùng bàn đến một cách thấu đáo trong một bài viết khác. Một ví dụ điển hình là hai thập niên trước, một vụ kiện kéo dài năm năm làm rúng động thế giới khoa học giữa công ty Nhật Bản Nichia và nhà phát minh đèn LED Shuji Nakamura, người về sau đoạt giải Nobel Vật lý năm 2014 cùng Isamu Akasaki và Hiroshi Amano, cuối cùng đã kết thúc với việc Nakamura nhận được 840 triệu Yên (tương đương 8,1 triệu USD), một số tiền chỉ đủ để trang trải chi phí pháp lý mà ông phải chịu.
Những khó khăn trong quá trình góp vốn thành lập công ty hoặc tham gia thành lập công ty, với nhà khoa học chưa phải là những khó khăn cuối cùng. Quá trình đưa một công nghệ mới vào vận hành trong dây truyền sản xuất ở thế giới thực có thể gặp muôn vàn trắc trở mà ngay cả quy mô sản xuất thử nghiệm (pilot) cũng không hình dung hết. "Chỉ có nhà khoa học làm ra công nghệ mới có đủ năng lực làm chủ được cái công nghệ ấy hoặc giải quyết được những vấn đề nó vấp phải, còn để cho người khác dùng sản phẩm công nghệ đó kinh doanh sản xuất thì có thể thất bại. Đó là lý do mà các nhà khoa học nước ngoài muốn tự mình làm doanh nghiệp", TS. Nguyễn Quân giải thích về khó khăn phổ biến của quá trình đưa công nghệ mới, công nghệ tiên phong vào thực tế.
Đây là điều hết sức phổ biến trong chuyển giao công nghệ trong và ngoài nước. Tại hội nghị "Phát triển thị trường KH&CN đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập", do Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì vào tháng 9/2022, giáo sư Châu Văn Minh, Viện trưởng Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, cũng cho rằng, "Về chủ trương chung, Nhà nước ta rất khuyến khích phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo" để thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu từ viện, trường. Một trong những cách làm phổ biến trên thế giới là thành lập công ty spinoff, loại công ty "thông thường gắn chặt với tác giả tạo ra công nghệ". Lý giải nguyên nhân tại sao rất hiếm nhà khoa học Việt Nam lập công ty spinoff, GS. Châu Văn Minh nói "đặc thù của loại hình này có tính rủi ro cao (thường chỉ 3-5% thành công), có thể không thành công nhiều lần và. Sau khi thất bại, các nhà khoa học này rất khó có thể quay trở lại con đường nghiên cứu khoa học của mình vì nhiều lý do khác nhau. Trong khi đó, hiện nay chưa có chính sách đảm bảo việc sử dụng các nhà khoa học khi triển khai doanh nghiệp đổi mới sáng tạo không thành công". Lý do ở đây là các nhà khoa học trong trường viện phần lớn đều là viên chức lao động với các chế độ thụ hưởng đều theo bậc lương nhà nước. Việc họ rời đi tới các doanh nghiệp làm việc có nghĩa họ bị cắt biên chế, bị loại khỏi bộ máy nhân sự trường, viện và mất hết các chế độ này.
Con đường trở về với nghiên cứu của nhà khoa học, một khi thất bại, là một câu hỏi mở và chưa được đề cập đến trong các văn bản quy định, hướng dẫn. Ngay cả trong Nghị định 271 vẫn mặc nhiên coi góp vốn công nghệ là con đường một chiều đến thành công, bất chấp nhiều rào cản trước một công nghệ tiên phong.Việc không có đường lùi cho nhà khoa học, dù ở góc độ thất bại hoặc ở góc độ công ty được mua bán sáp nhập bởi các doanh nghiệp lớn, hoặc đơn giản là vì muốn tiếp tục phát triển những ý tưởng công nghệ hoàn toàn mới, khiến cho họ cảm nhận được là việc góp vốn công nghệ chỉ có một đường thẳng tiến. Một phần vì vậy mà "các nhà khoa học còn chưa mạnh dạn dấn thân vào con đường thương mại hóa và các kết quả nghiên cứu vẫn chưa được đưa vào thực tế ứng dụng", GS. Châu Văn Minh nói.
Không chỉ thiếu những quy định về thoái vốn công nghệ cho nhà khoa học trong một công ty KH&CN mà ngay cả việc hướng dẫn xây dựng đề án thành lập, tham gia thành lập doanh nghiệp, tham gia góp vốn vào doanh nghiệp của Nghị định 271 vẫn còn chưa đầy đủ, mặc dù nghị định đã dành hẳn một chương để đề cập đến vấn đề này. "Khi đọc nghị định, tôi cũng cảm thấy không rõ là cả nhà khoa học lẫn doanh nghiệp sẽ hiểu và thực hiện hướng dẫn như thế nào", một nhà quản lý khoa học nhiều kinh nghiệm cho biết. "Nói một cách ngắn gọn thì có nhiều điểm ảnh hưởng đến tính khả thi của văn bản hướng dẫn".
Thực tế thì phong phú và đa dạng với rất nhiều tình huống khác nhau có thể xảy ra mà chúng ta có thể chưa quen thuộc, đặc biệt là thực tế công nghệ. Vì vậy những hành lang pháp lý mới mẻ hướng dẫn chuyển giao công nghệ/góp vốn công nghệ trong không gian trường viện vẫn cần đến việc sửa đổi và bổ sung cho hoàn thiện Luật Chuyển giao công nghệ, một bộ khung có thể đem lại những công cụ trám vào lỗ hổng chính sách của những văn bản trước.
Đó là điều mà cộng đồng khoa học và những nhà quản lý khoa học tâm huyết mong đợi. Việc có sự hướng dẫn và hỗ trợ pháp lý đầy đủ sẽ là cách để khai thác tốt nhất know-how, bí quyết công nghệ trong trái tim và khối óc của họ, nhất là khi họ nắm giữ không chỉ độc nhất một bí quyết. Có thể nhìn vào trường hợp Shuji Nakamura, người đến tháng 5/2020 nắm giữ 208 bằng sáng chế tiện ích, đã cùng với các giáo sư khác ở ĐH California ở Santa Barbara vào năm 2008 thành lập Soraa, một công ty phát triển công nghệ chiếu sáng thể rắn trên nền gali nitride nguyên chất; vào năm 2022 đồng sáng lập Blue Laser Fusion, một công ty tổng hợp thương mại, với Hiroaki Ohta, cựu Chủ tịch của nhà sản xuất máy bay không người lái ACSL và vào tháng 7/2023, huy động được 25 triệu USD từ Công ty Đầu tư mạo hiểm JAFCO Group và Mirai Creation Fund.
Như người ta thường nói "quả ở đây nhưng nhân lại ở chỗ khác". Những cuộc ra mắt công ty hào nhoáng hay những màn thông báo rầm rộ về mức huy động vốn mới chỉ phản ánh cái dễ thấy bề mặt của câu chuyện góp vốn công nghệ/chuyển giao công nghệ. Trong khi đó, làm nên thành công cho nó đòi hỏi sự hoàn thiện của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái thị trường KH&CN, vai trò của các trung tâm chuyển giao công nghệ (TTO) trong trường, viện, mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa trường, viện/nhà khoa học với doanh nghiệp, sự đầu tư đúng và đủ về kinh phí lẫn hệ thống cơ sở vật chất, và sự sẵn sàng của vốn con người được chăm chút đủ tốt (trong trường hợp này chính là nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao trong trường viện)...
Nếu đơn thương độc mã, những nhà khoa học như Katalin Karikó hay Shuji Nakamura không bao giờ có thể tạo nên đột phá trong nghiên cứu, chưa nói đến việc chủ động lập công ty, đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm có giá trị cho xã hội và rút cục trở thành những doanh nhân triệu đô. Bởi xét cho cùng, việc khai thác vốn trí tuệ/vốn công nghệ không phải là cuộc vận động đơn độc của nhà nghiên cứu.
Bài đăng KH&PT số 1369 (số 45/2025)
Thanh Nhàn


