Minh họa: Tia Sáng
Chiếc tivi hỏng ngay cạnh cửa phủ một màu đen của nhựa, của màn hình đã cháy. Chiếc tủ lạnh long cửa gỉ sét nằm chỏng chơ trong góc bếp. Còn trên tường, vệt bùn khô vẫn còn, đậm hơn cả lớp sơn ở dưới đã bợt từng mảng vì nước lũ.
Đã hơn nửa năm trôi qua kể từ trận mưa lũ lịch sử cuối tháng 10 năm ngoái, nhưng trong căn nhà của bà Hồ Thị Đậu tại xã Thu Bồn (Đà Nẵng), thời gian dường như vẫn dừng lại ở ngày hôm đó.
"Ai biết lụt ro rứa", bà Đậu chỉ tay lên vạch nước vẫn còn hằn trên cột nhà, cao đến cổ người trưởng thành. "Cái lần nước đầu thì thấp thôi, cái lần sau mới lên cao".
"Họ (chính quyền) cũng thông báo lớn thôi chứ chẳng biết lớn thế nào, rồi cũng thông báo xả lũ. Lũ do xả đó chớ không như hồi xưa là lượng mưa không đâu. Mưa không là không có lớn, nước chậm chậm thôi, còn xả lũ thì nước cứ ùn ùn vô rứa đó", bà kể lại cảnh nước từ cánh đồng phía trước tràn qua đường rồi dội thẳng vào ngôi nhà vốn đã thấp hơn mặt đường.
Cảm nhận của bà Đậu cũng là điều nhiều dân làng đặt ra sau mỗi trận lũ lớn. Hệ thống hồ chứa đã từng nhiều năm giúp giảm đỉnh lũ, vậy điều gì đã thay đổi trong trận lũ 2025?
Mọi quyết định phải tuân thủ ngưỡng quy định trước
Xã Thu Bồn, nơi gia đình bà Đậu đang sinh sống, nằm trong lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn. Đây là một trong 10 lưu vực sông lớn nhất, có lượng mưa trung bình lưu vực lớn nhất Việt Nam, hệ thống sông có diễn biến thủy văn phức tạp, khắc nghiệt.
Hai dòng sông Vu Gia và Thu Bồn kết nối với nhiều con sông nhỏ phụ lưu trước khi đổ ra biển qua ba cửa sông. Trên thượng nguồn, hàng loạt hồ thủy điện như A Vương, Sông Bung 4, Đăk Mi 4, Sông Tranh 2... cùng tham gia điều tiết dòng chảy.
Các nhà máy thủy điện trên hệ thống sông Vũ Gia - Thu Bồn. Nguồn: Thủy điện A Vương
Các hồ này không vận hành độc lập mà tuân theo quy trình vận hành liên hồ chứa [1], không chỉ quy định mực nước hồ trong mùa lũ mà còn quy định khi nào hồ được phép bắt đầu vận hành cắt giảm lũ cho hạ du. Trước khi kích hoạt "tham gia vận hành giảm lũ", hồ không được phép tích nước vượt quá mức "trần" nhưng cũng không được tự ý hạ thấp dưới mức "sàn".
Điều đó có nghĩa là người vận hành không thể tự quyết định hạ thấp mực nước hồ dưới mức "sàn" để tạo thêm dung tích phòng lũ, kể cả khi dự báo cho thấy sắp có một đợt mưa rất lớn. Mọi quyết định đều phải nằm trong những ngưỡng được quy định từ trước. Các tình huống bất thường khác do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định để đảm bảo an toàn cho hạ du.
Mức hiếm gặp trong chuỗi quan trắc nhiều thập kỷ
Cách vận hành này nhìn chung đã phát huy hiệu quả trong nhiều năm.
Có hồ chứa điều tiết giúp giảm đỉnh lũ, giảm dòng chảy xuống hạ lưu, giảm diện tích ngập lụt ở lưu vực sông Vu Gia Thu Bồn, tiêu biểu như với đợt lũ năm 2009 [2]. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng lưu ý, nếu thời gian ngập lụt kéo dài nhiều hơn, thiệt hại sẽ lớn hơn.
Nghiên cứu khác về dòng chảy trong 4 thập kỷ (1979 - 2020) cũng cho thấy [3], các hồ chứa đã ảnh hưởng đáng kể đến dòng chảy, đặc biệt sau năm 2011 khi 12 đập thủy điện bậc thang được xây dựng tại các tiểu lưu vực Vu Gia. Theo đó, các hồ chứa trên sông Vu Gia làm giảm lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm và làm tăng mức độ ảnh hưởng lên hạ lưu.
Nhưng đó không phải là những gì bà Nguyễn Thị Hai ở xã Vu Gia nhớ về trận lũ cuối tháng 10 năm ngoái.
Bà Nguyễn Thị Hai chỉ vào vệt nước còn lại trên tường sau trận lũ năm 2025.
"Có nhiều hồi tối ni mưa thì sáng mai phải dọn ngay chứ không kịp nữa", bà kể. Có đợt nước lên hai ngày, có đợt chỉ qua một đêm đã tràn vào nhà. "Ví dụ như họ xả nhiều thì nước lâu rút hơn. Nước đập xả chảy nhanh lắm, y như đổ vô nhà."
Cũng như nhà bà Đậu ở Thu Bồn, những vệt bùn non hằn trên tường nhà bà Hai ở Vu Gia, rõ như những ký ức của người dân lưu vực này về một đợt lũ lớn chưa từng thấy suốt nhiều năm qua.
Câu trả lời đầu tiên chính ở trận mưa 5 ngày đó. Từ chiều ngày 26/10 đến 31/10/2025, lưu vực Vu Gia - Thu Bồn hứng chịu một trong những đợt mưa lớn nhất trong nhiều thập kỷ, với tổng lượng mưa tại nhiều nơi vượt 1.000mm. Mưa cực đoan đã gây ra đợt lũ kéo dài bất thường trên toàn lưu vực. 3 trong số 5 trạm thủy văn chính duy trì mực nước trên báo động III liên tục hơn 100 giờ, tương ứng với rủi ro thiên tai cấp 3 - cấp cao nhất đang được áp dụng tại Đà Nẵng.
Đợt lũ này tại Đà Nẵng đã vượt mốc lịch sử năm 1964, mức rất hiếm gặp trong chuỗi quan trắc nhiều thập kỷ.
Toàn cảnh sạt lở một đoạn sông Thu Bồn tại xã Thu Bồn cuối tháng 10/2025. Ảnh: Thế Nhựt
Theo TS. Lê Hùng, không chỉ lượng mưa rất lớn, mà đặc điểm của mưa cũng đã thay đổi. Dữ liệu giai đoạn 2013-2025 cho thấy đã xuất hiện 7 trận mưa có cường độ vượt 80 mm/giờ, nhiều hơn hẳn giai đoạn 1979-2012, phản ánh xu hướng các trận mưa ngày càng cực đoan.
Đặc biệt, đợt mưa 26 - 31/10/2025 trùng pha La Niña gây mưa trên diện rộng, vượt các trận lũ lịch sử trước đây trên lưu vực Vu Gia - Thu Bồn (1999, 2007, 2009), dẫn tới dòng chảy về hạ du rất lớn.
Điều đó có nghĩa là bài toán mà hệ thống hồ phải đối mặt cũng đã khác trước.
Mưa lớn mới chỉ là một khía cạnh. Theo ông Hùng, dự báo mưa lũ có độ tin cậy chưa cao nên vận hành hồ chứa chưa hiệu quả, đồng bộ. Đơn cử, trong đợt lũ sau đó, vào giữa tháng 11, trong khi hồ Đăk Mi 4 cắt lũ nhưng hồ Sông Tranh 2 lại xả đón lũ.
Bộ Nông nghiệp và môi trường trong hội nghị đầu năm nay cũng thẳng thắn thừa nhận, công tác dự báo, cảnh báo sớm mưa cực đoan, trong phạm vi hẹp còn hạn chế và vẫn luôn là thách thức, nhất là trong các đợt thiên tai lớn bất thường [4].
Quy trình hiện hành vẫn dựa vào dữ liệu quá khứ
Quy trình hiện hành chủ yếu được xây dựng cho những kịch bản lũ đơn hoặc các trận lũ nằm trong chuỗi số liệu lịch sử. Thực tế đã chứng minh nó không còn phù hợp với tình huống diễn biến mưa lũ cực đoan, "lũ chồng lũ, lũ đặc biệt lớn", và chưa tính toán hết những tác động lên hệ thống hạ tầng phía hạ du. Khi nhiều đợt mưa lớn xuất hiện liên tiếp, hồ đã tích nước chạm "trần" và phải xả ngay khi đợt mưa tiếp theo xảy ra, khiến hồ không còn khả năng cắt đỉnh lũ.
Toàn cảnh hồ thủy điện Đăk Mi 4. Ảnh: Thanh Minh
Bất cập này bộc lộ rõ trong đợt mưa lũ lịch sử cuối tháng 10/2025. Theo TS Lê Hùng, khi dự báo đã cho thấy một đợt mưa rất lớn có khả năng kéo dài nhiều ngày, các hồ thủy điện trên lưu vực Vu Gia - Thu Bồn như A Vương, Đăk Mi 4, Sông Tranh 2 và Sông Bung 4 cần hạ mực nước hồ sớm hơn để tạo thêm dung tích phòng lũ. Có thêm dung tích trống nghĩa là có thể giữ nhiều nước hơn trong những giờ mưa lớn nhất, qua đó tăng khả năng cắt giảm đỉnh lũ cho hạ du.
Nhưng theo Quy trình 1865, việc vận hành cắt giảm lũ không chỉ phụ thuộc vào lượng nước đổ về hồ mà còn căn cứ vào mực nước tại các trạm thủy văn ở hạ du. Chỉ khi các trạm này đạt ngưỡng quy định (trung bình cộng của báo động II và báo động III của từng trạm), hồ mới được phép chuyển sang chế độ vận hành cắt giảm lũ.
Như vậy, khi mực nước tại các trạm thủy văn hạ du vẫn dưới báo động II, các hồ không được hạ thấp hơn mực nước đón lũ thấp nhất đã quy định, ngay cả khi dự báo cho thấy phía trước có thể là một đợt mưa cực đoan kéo dài.
Đồng quan điểm với TS Lê Hùng, PGS.TS Vũ Thanh Ca, giảng viên cao cấp Khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên môi trường Hà Nội, đánh giá, dù các quy trình được xây dựng rất cẩn trọng, khoa học, nhưng theo thời gian, các quy trình lạc hậu với tình hình biến đổi khí hậu và gia tăng thời tiết cực đoan khi các nhà máy thủy điện của Việt Nam được tính toán thiết kế với các số liệu thủy văn cũ.
Một bài học dễ thấy với hồ thủy điện khác, như Thác Bà từng được thiết kế rất cẩn trọng và lưu lượng lũ kiểm tra công trình được tính ở cấp đặc biệt. Nhưng thực tế mưa lũ hiện nay đã khác xa những tính toán này, đã đặt công trình vào tình trạng khẩn cấp như trận lũ năm 2024.
Các biểu đồ lượng nước đến và xả của các hồ cho thấy: Ở giai đoạn đầu các hồ còn cắt được một phần lũ. Sau đó, khi hồ gần đầy, lượng xả gần bằng lượng nước về hồ.
Quay trở lại với Vu Gia - Thu Bồn, dữ liệu vận hành các hồ cho thấy, chỉ sau khoảng nửa trận lũ không lớn đầu tiên, các hồ đã ‘no nước’, không còn dung tích phòng lũ nên không thể cắt được các đỉnh lũ tiếp theo và buộc phải xả để đảm bảo an toàn đập. Nhiều đợt mưa lớn xuất hiện liên tiếp khi các hồ chưa kịp khôi phục dung tích phòng lũ.
Trong các đợt mưa lớn liên tiếp, các hồ cùng buộc phải tăng lưu lượng xả đúng lúc dòng lũ tự nhiên từ các phụ lưu cũng đang đổ về hạ du. Khi hai dòng nước chồng lên nhau, đỉnh lũ ở hạ du có thể cao hơn hoặc nước lên nhanh hơn so với khi nước từ hồ và nước từ các phụ lưu về vào những thời điểm khác nhau.
Hiện tượng này còn được gọi là "lũ chồng lũ", có thể lý giải điều mà bà Hải, bà Đậu cảm nhận khi nước "ập vào rất nhanh", dù không phải toàn bộ lượng nước đều đến từ hồ chứa.
Nguy cơ "lũ chồng lũ" đã từng được các nhà khoa học cảnh báo trong một số nghiên cứu trước đây về lưu vực Vu Gia - Thu Bồn [5]. Để phòng ngừa nguy cơ này, thời điểm và lưu lượng xả từng đợt có ý nghĩa quan trọng không kém tổng lượng nước xả.
Tiếp theo, vấn đề càng trở nên nghiêm trọng hơn khi dòng lũ đổ từ thượng nguồn về bị giam lại lâu hơn trước đây rất nhiều. Theo TS Lê Hùng, trong đợt lũ tháng 10/2025, thời gian mực nước tại nhiều trạm duy trì trên báo động III kéo dài gấp 2–3 lần so với các trận lũ lịch sử năm 1999, 2007 và 2009. Thực tế này cho thấy không thể chỉ đánh giá nguy cơ lũ ở "đầu nguồn", mà vấn đề ngập lụt còn ở "cuối nguồn". Do đó, sẽ phải đánh giá nghiêm túc tác động tích lũy của quá trình đô thị hóa, san lấp mặt bằng, lấn sông, hệ thống giao thông và các công trình làm thu hẹp không gian chứa lũ, chặn đường thoát lũ.
So với các trận lũ lớn lịch sử trong cùng giai đoạn, thời gian ngập vượt báo động III tại nhiều trạm năm 2025 lên đến hơn 100 giờ, cao bất thường, gấp 3 – 4 lần các trận lũ khác
Khi dòng lũ từ thượng nguồn dồn xuống trong lúc hạ du tiêu thoát chậm hẳn so với trước, điều quan trọng không chỉ là tổng lượng nước xả, mà còn là tạo được thêm thời gian để kéo giãn quá trình xả lũ dù chỉ vài giờ cũng tốt. Thế nhưng, quy trình vận hành hiện nay lại chưa tạo thêm được "khoảng đệm" đó.
Từ góc nhìn của đơn vị vận hành, bài toán không đơn giản là hạ thấp hồ càng nhiều càng tốt. Trong video: Thủy điện Đak Mi 4 tháng 5/2026. Video: Thanh Minh
Làm sao kéo giãn được thêm vài giờ hoặc nửa ngày?
Từ góc nhìn của đơn vị vận hành, bài toán không đơn giản chỉ là hạ thấp mực nước hồ càng nhiều càng tốt. Họ luôn phải đánh đổi giữa nhiều mục tiêu. Ông Ngô Xuân Thế, Phó TGĐ CTCP Thủy điện A Vương, cho biết, vào cuối mùa khô và cuối mùa mưa. Nếu hạ mực nước hồ quá sớm nhưng mưa đến muộn hoặc kết thúc sớm, hồ có thể không tích đủ nước cho phát điện và cấp nước mùa khô. Ngược lại, nếu tích nước quá sớm để bảo đảm hiệu quả phát điện, khi xuất hiện các trận mưa lớn cuối mùa, dung tích phòng lũ sẽ bị thu hẹp.
Đó là lý do các đơn vị vận hành thủy điện cần tuân thủ theo quy trình kiểm soát mực nước hồ do Nhà nước quy định. Vấn đề là "việc thực thi quy trình 1865 đã bộc lộ một số tồn tại", Sở Nông nghiệp và môi trường Đà Nẵng trong văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và môi trường cuối tháng 3 vừa qua đã thừa nhận [6].
Cụ thể, năng lực điều tiết của các hồ chứa hạn chế, chỉ có thể giảm lũ cho các địa phương ở khu vực hạ du mà không thể giải quyết tình trạng ngập lụt. Đồng thời, việc quy định mực nước vận hành trong mùa lũ (mực nước cao nhất trước lũ, mực nước đón lũ thấp nhất) của các hồ trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn đã không còn phù hợp với diễn biến mưa lũ bất thường như hiện nay, cần phải rà soát, điều chỉnh để phát huy hiệu quả cắt giảm lũ cho hạ du trong suốt mùa lũ.
Theo TS Lê Hùng, nếu có dự báo đủ tin cậy về một đợt mưa rất lớn kéo dài, cần cho phép các hồ như A Vương, Sông Bung 4, Đăk Mi 4 và Sông Tranh 2 hạ mực nước xuống thấp hơn quy định hiện nay để tăng dung tích phòng lũ. Thời gian hạ hồ cũng có thể kéo dài từ 48-72 giờ, thay vì 24-48 giờ như quy định hiện hành.
Người dân trong thôn chỉ vào bảng vết lũ tại thôn Lâm Yên, xã Vu Gia. Ảnh: P. Vinh
Nhóm nghiên cứu đã mô phỏng cùng một trận lũ theo hai phương án vận hành hồ chứa với 4 hồ A Vương, Đak Mi 4, Sông Tranh 2, Sông Bung 4. Kết quả cho thấy, nếu các hồ được hạ mực nước sớm về ngưỡng mở van trước khi lũ đến, lưu lượng xả cực đại của tất cả các hồ đều giảm. Đồng thời, toàn hệ thống sẽ tạo thêm khoảng 265 triệu m³ dung tích đón lũ để tích nước trong giai đoạn mưa lớn nhất, qua đó giảm áp lực phải xả đồng thời vào thời điểm đỉnh lũ. Đối với trận lũ cuối tháng 10/2025, tổng lượng nước về bốn hồ chứa lớn trên lưu vực Vu Gia - Thu Bồn khoảng 2,8 tỷ m³, nên phần dung tích bổ sung này tương đương gần 10% tổng lượng nước của cả trận lũ. Với các trận lũ có quy mô nhỏ hơn, tỷ lệ dung tích phòng lũ sẽ còn lớn hơn, qua đó nâng cao hiệu quả cắt giảm đỉnh lũ và giảm nguy cơ ngập cho hạ du.
Quan trọng hơn, giá trị của việc tăng dung tích đón lũ không chỉ nằm ở lượng nước được giữ lại mà còn ở khả năng kéo giãn quá trình xả lũ. Chỉ cần tạo thêm vài giờ, hoặc khoảng nửa ngày, để các hồ chứa phối hợp điều tiết, tránh tình trạng nhiều hồ đồng thời xả lớn khi đỉnh lũ tự nhiên đang truyền xuống hạ du, thì đỉnh lũ tổng hợp có thể được hạ thấp đáng kể, qua đó giảm áp lực ngập lụt cho hạ du.
Thực tế cũng đã xuất hiện những tình huống lưu lượng nước đổ về hồ tăng rất nhanh, trong khi mực nước tại các trạm thủy văn ở hạ du vẫn chưa vượt ngưỡng báo động II - điều kiện để vận hành cắt giảm lũ. Trong khoảng thời gian chờ hạ du đạt ngưỡng, nước vẫn tiếp tục tích vào hồ, làm giảm dần dung tích phòng lũ có thể sử dụng để cắt đỉnh lũ khi trận lũ thực sự đến, Sở Nông nghiệp và Môi trường Đà Nẵng nhận định.
Những bất cập này đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường thừa nhận. Tại buổi làm việc đầu tháng 11/2025, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và môi trường cũng nhấn mạnh, hiện nay quy trình vận hành hồ chứa thủy điện sẽ cần điều chỉnh.
Sạt lở tại xã Thu Bồn, tháng 10/2025. Ảnh: Thế Nhựt
TS Lê Hùng cũng lưu ý, quyền chủ động hạ mực nước xuống thấp hơn phải đi kèm với năng lực dự báo tốt hơn. Nếu dự báo sai hoặc mùa mưa kết thúc sớm, việc hạ hồ quá nhiều cũng có thể dẫn tới thiếu nước cho phát điện và mùa khô.
Đồng thời, sau khi ban hành quy trình vận hành, các địa phương cần sớm triển khai xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) trên nền tảng Web phục vụ vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực. Hệ thống cần tích hợp đồng bộ các mô-đun tiếp nhận và xử lý dự báo mưa, dự báo dòng chảy về hồ, mô phỏng vận hành liên hồ chứa, bản đồ ngập lụt hạ du theo từng cấp độ rủi ro và các phương án ứng phó, sơ tán tương ứng với từng kịch bản. Toàn bộ quy trình tính toán được tự động cập nhật ngay sau khi có các phiên bản dự báo mưa mới từ từ Cục Khí tượng Thủy văn hoặc từ các mô hình dự báo quốc tế (ECMWF, GFS...), trong đó các mô phỏng và phương án hỗ trợ vận hành cần hoàn thành trong 15–30 phút. Nhờ đó, nhà quản lý có thể nhanh chóng đánh giá các kịch bản, lựa chọn phương án vận hành tối ưu theo diễn biến thực tế thay vì chỉ dựa vào các ngưỡng cố định trong quy trình.
"Quy trình vận hành chỉ là khung pháp lý. Để vận hành hiệu quả trong thực tế, cần có hệ thống hỗ trợ ra quyết định theo thời gian thực, kết hợp với bản đồ ngập lụt theo các kịch bản để chủ động ứng phó và giảm thiểu rủi ro cho hạ du", ông nói.
Ngoài ra, cần đưa vào quy trình biến số liên quan đến hiện tượng El Nino hay La Nina - điều hoàn toàn dự báo được trước và được dự báo tốt trong nhiều năm trở lại đây. Ví dụ, trong giai đoạn El Nino thì hồ có thể tích ngay chứ không cần theo một ngưỡng cứng nhắc hay nếu có dự báo La Nina, bằng mọi giá cần hạ sâu mực nước để có dung tích chứa nước mùa mưa bão.
Ông lưu ý thêm về tần suất kiểm tra cũng cần phải được đánh giá lại trong bối cảnh biến đổi khí hậu khiến lượng mưa ứng với lưu lượng đỉnh lũ kiểm tra, hay tần suất kiểm tra trước đây không còn đúng nữa.
Nỗi lo về một mùa lũ sắp tới ngày luôn canh cánh trong lòng bà Đậu và những người dân xã Thu Bồn. Có những điểm, vị trí sạt lở bờ sông chỉ còn cách khu dân cư khoảng 3m, còn những bao cát và cọc tre được gia cố tạm thời đã bắt đầu mục nát.
Sắp vào mùa mưa năm nay, xã Thu Bồn rồi sẽ bồi thêm bao cát, cọc tre rồi sẽ được thay mới, nhưng đó chỉ là giải pháp tạm thời. Liệu những bài học sau trận lũ lịch sử năm 2025 có đủ để giúp các hồ chứa vận hành hiệu quả hơn, để nước không còn dồn về hạ du trong những thời khắc nguy hiểm nhất hay không.
---
Chú thích:
[1] Quyết định số 1865/QĐ-TTg ngày 23/12/2019 (Quy trình 1865) của Thủ tướng Chính phủ và các quy trình đơn hồ do cấp có thẩm quyền phê duyệt.
[2] Thuy Nga To, Huy Cong Vu, Hung Le; Impacts of reservoir operation and urbanization on flood inundation in the Vu Gia Thu Bon Basin, Vietnam. Water Supply 1 April 2022; 22 (4): 4656–4675. https://doi.org/10.2166/ws.2022.124
[3] Nguyen, B. Q., Kantoush, S. A., Saber, M., Van Binh, D., Vo, N. D., & Sumi, T. (2023). Quantifying the impacts of hydraulic infrastructure on tropical streamflows. Hydrological Processes, 37(3). https://doi.org/10.1002/hyp.14834
[4] Tài liệu Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống thiên tai 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, https://phongchongthientai.mard.gov.vn/FileUpload/2026-03/P5TA-ZWNYkOnWcJbTài%20liệu%20Hội%20nghị%20PCTT%202026%20-.pdf
[5] Dương Quốc Huy, Nguyễn Tùng Phong, Trần Đăng, Nguyễn Văn Duy, Tác động của các công trình hồ, đập đối với dòng chảy trên lưu vực sông Vũ Gia - Thu Bồn, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 19 - 2013, https://vawr.org.vn/images/File/ThS.%20Duong%20Quoc%20Huy.pdf
[6] Số: 2909/SNNMT-CCTNNTL V/v góp ý sửa đổi, điều chỉnh Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn theo Công văn số 2073/BNNMT- TNN ngày 09/3/2026. https://drive.google.com/file/d/1hBhfypNPlWgKQFMjLA5p1HHHURp2jcko/view?usp=sharing