TiaSang
Thứ 7, Ngày 4 tháng 4 năm 2020
Khoa học và Công nghệ

Sông Mekong, đập Xayaboury và ĐBSCL ở nửa đầu mùa khô 2019-2020

19/03/2020 16:50 - Nguyễn Ngọc Trân

Hiện nay đang là thời điểm giữa mùa khô 2019-2020. Hạn, mặn ở đồng bằng sông Cửu Long được cho là có thể còn gay gắt hơn cả trong mùa khô “lịch sử” 2015-2016. Bài viết xem xét dòng chảy sông Mekong trong hạ lưu vực trong nửa đầu mùa khô năm nay, ngay sau khi đập thủy điện Xayaboury đi vào hoạt đông nhằm góp phần làm rõ vấn đề. Từ đó đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị. Số liệu là từ cơ sở dữ liệu của Ủy hội sông Mekong.


Ảnh: The Laotian Times

Các trạm thủy văn trên dòng chính trong Hạ lưu vực sông Mekong
Mực nước ngày sông Mekong tại 13 trạm thủy văn trên dòng chính được Ủy hội sông Mekong cung cấp. Số liệu được bổ sung hàng tuần. Vị trí và một số thông tin về các trạm được trình bày trong Hình 1.

Hình 1.Vị trí các trạm thủy văn Bảng 1.Thông tin về 13 trạm thủy văn trên sông Mekong1  

Trong các hình sau đây, (Max), (Min) và (Avg) lần lượt là các đường mực nước ngày cao nhất, thấp nhất, và trung bình 2 3. Vùng nằm giữa đường Max và đường Min là miền biến động của mực nước trong các năm từ 1980 đến 2019. 
Trên một số đồ thị còn có đường mực nước mùa khô năm 1992-1993 và đường mực nước mùa khô năm 2003-2004, lần lượt trước sau khi đập thủy điện đầu tiên, đập Manwan, ở thượng lưu vực sông Mekong, đi vào hoạt động năm 1995.
I. Mực nước sông Mekong trong hạ lưu vực ở nửa đầu mùa khô 2019-2020


Hình 2. Đường mực nước tại trạm Chiang Saen

1. Tại trạm Chiang Saen. Đường mực nước khởi đầu mùa khô năm nay ngày 01.11.2019 rất thấp, bằng đường mực nước Min rồi tăng dần. Đến ngày 06.01.2020 mực nước rơi từ 2,89 mét ngày 04.01.2020 xuống 1,73 mét sau khi đập Jinghong giảm lượng nước tháo xuống hạ du từ ngày 01 đến ngày 04.01.2020, từ 1200 - 1,400 m³/s xuống 800 - 1,000m³/s, theo thông báo của MRC 4 5.
2. Tại các trạm Luang Prabang và Chiang Khan 
Đập thủy điện Xayaboury ở giữa trạm Luang Prabang và trạm Chiang Khan, đi vào hoạt động ngày 31.10.2019. Mùa khô năm nay, mực nước ở trạm Luang Prabang khởi đầu ở mực nước trung bình Avg, thấp hơn các mùa khô trước nhưng sau đó tăng lên và cho đến ngày 24.02 ở 8 mét, thậm chí có lúc tiệm cận đường Max. Đập Xayaboury tích nước là một lý do. (Hình 3, trái). 
Trong khi đó tại trạm Chiang Khan, mực nước khởi đầu gần bằng mực nước Min. Sau đó, tuy có lúc tăng lên 4,95 mét (08.01.2020) và 5,12 mét (21.12.2019) nhưng mực nước luôn thấp, nằm giữa đường Min và Avg, (Hình 3, phải).


Hình 3. Đường mực nước tại Luang Prabang và Chiang Khan năm đầu tiên đập Xayaboury đi vào hoạt động

Lưu vực giữa hai trạm khá rộng, ngoài lượng nước từ Luang Prabang chảy về, Chiang Khan còn nhận được lượng nước mưa trên lưu vực mà kể từ mùa khô năm nay, đập Xayaboury tích lại một phần quan trọng. 

3. Tại các trạm Chiang Khan và Vientiane 

Hình 4. Đường mực nước mùa khô một số năm tại hai trạm Chiang Khan và Vientiane

Khoảng cách ngắn, lưu vực khu giữa không rộng. Vào mùa khô không có dòng bổ sung ngang nên đường mực nước các năm ở hai trạm gần như đồng dạng, chỉ lệch ngày. Mực nước đến giữa mùa khô năm nay nằm giữa đường Min và Avg.
4. Tại các trạm Nakhon Phanom và Mukdahan


Hình 5. Đường mực nước mùa khô một số năm tại Nakhon Phanom và Mukdahan


Hình 6. Sông Mekong tại Nakhon Phanom những ngày cuối tháng 10 và đầu tháng 12.2019

Mùa khô năm nay lượng nước bổ sung ngang không đáng kể vì ít mưa trên lưu vực. Do vậy, đường mực nước các năm ở hai trạm gần như đồng dạng, chỉ lệch ngày (Hình 5) và gần với đường Min.
Mực nước sông Mekong tại trạm Nakhon Phanom ngày 27.11.2019 là 0,79 mét. Nhiều bãi cát ở đáy sông lộ thiên. Cũng trong những ngày này, nước sông từ màu vàng-nâu chuyển sang màu xanh lục-xanh. (Hình 6, tin ảnh từ Bangkok Post).

5. Tại các trạm Pakse, Stung Treng, Kratie và Kompong Cham
Trạm Pakse cách trạm Mukdahan 256 km với lưu vực gigue hai trạm rộng 154.000 km2. Do mùa khô năm nay ít mưa nên mực nước tại Pakse hầu như đồng dạng với đường mực nước tại Mukdahan, chỉ lệch về thời gian.


Hình 7. Đường mực nước tại trạm Pakse (trái) và tại trạm Stung Treng (phải)

Lưu vực giữa hai trạm Pakse và Stung Treng rộng 90.000 km2 có một phần nằm trên Tây Nguyên của Việt Nam. Tuy có dòng bổ sung ngang từ ba sông Sesan, Serepok và Sekong, nhưng cho đến ngày 24.2.2020, mực nước tại Stung Treng vẫn thấp, bắt đầu mùa khô ở mực nước Min và từ tuần đầu tháng 1 ở mực nước trung bình Avg. (Hình 7, phải).


Hình 8. Mực nước tại trạm Kratie (trái) và trạm Kompong Cham (phải)

Đầu mùa khô năm nay mực nước tại hai trạm Kratie và Kompong Cham hầu như trùng với đường mực nước Min cho đến ngày 24.12. Sau đó mực nước trạm Kratie tiến về mực nước Avg rồi từ đầu tháng 3.2020, giảm đáng kể, trong khi mực nước tại Kompong Cham thậm chí còn thấp hơn đường mực nước Min. (Hình 8). 

6. Tại các trạm Phnom Penh Port và Phnom Penh trên Bassac

Sông Mekong chảy đến Phnom Penh và hợp lưu tại đây với sông Tonle Sap liên thông với Biển Hồ. Sông Bassac khởi nguồn từ Phnom Penh tại điểm hợp lưu. Tại Phnom Penh có hai trạm thủy văn Phnom Penh Port (PPP) và Phnom Penh Bassac (PPB). Ngay từ đầu mùa khô năm nay mực nước tại hai trạm này vừa thấp vừa dao động khác với các năm trước, nhất là với các năm 1992-1993, 2003-2004 (Hình 9). 


Hình 9. Đường mực nước tại PPP (trái) và PPB (phải) đối chiếu với các năm 2017-2018, 2018-2019 (trên) và 1992-1993, 2003-2004 (dưới).
 
7. Tại các trạm Neak Luong và Koh Khel

Sau Phnom Penh, trên sông Mekong là trạm Neak Luong, trên sông Bassac là trạm Koh Khel. Mực nước đầu mùa khô năm nay rất thấp, gần như trùng với đường mực nước Min. Dao động của mực nước được nhận thấy tại cả hai trạm cũng như và rõ rệt hơn tại hai trạm Phnom Penh Port và Phnom Penh Bassac. Hình 10.
 

Hình 10. Đường mực nước tại Koh Khel (trái) và Neak Luong (phải) đối chiếu với các năm 1992-1993, 2003-2004

8. Tại các trạm Tân Châu và Châu Đốc
Mực nước tại Tân Châu và Châu Đốc cũng thấp và dao động mạnh (Hình 11). Dao động này cũng được nhận thấy, ở mức độ thấp hơn, tại Neak Lương (Mekong) và Koh Khel (Bassac) và tai hai trạm PPP và PPB tại các Hình 9 và 10. 
 

Hình 11. Đường mực nước tại Châu Đốc (trái) và Tân Châu (phải) đối chiếu với các năm 1992-1993, 2003-2004.

9. Tại các trạm Prekdam và Kompong Luong trên sông Tonle Sap
Hình 12 (trái) cho thấy mực nước tại trạm Prekdam trên sông Tonle Sap năm nay thấp và có một giai đoạn dao động khá rõ từ 11.12.2019 đến 28.01.2020. 
Đường mực nước trong 6 tháng mùa khô tại trạm Kompong Luong các năm lũ cao 1996-1997, 2000-2001, 2010-2011, và các năm hạn 2015-2016, 2019-2020 được trình bày trong Hình 12 (phải)   


Hình 12. Mực nước tại các trạm Prekdam (trái) và Kompong Luong (phải) trên sông Tonle Sap

Nhận xét và bình luận 

(1) Nhận xét bao trùm là mực nước tại các trạm trên dòng chính sông Mekong trong hạ lưu vực, trên sông Bassac và trên sông Tonle Sap rất thấp, rất gần, có nơi còn thấp hơn đường Min. Trừ tại trạm Luang Prabang. 

(2) Yếu tố nền trên hạ lưu vực nửa đầu mùa khô năm nay là khô hạn. Lượng nước bổ sung ngang từ các lưu vực khu giữa rộng không đáng kể. Điều này góp phần làm rõ tác động của đập Xayaboury lên dòng chảy sông Mekong về phía hạ du. 

(3) Đập thủy điện Xayaboury đã tạo ra bậc thang nhân tạo đầu tiên trên sông Mekong. Mực nước ở trạm Chiang Khan thấp đi hẵn. Sự khô hạn cho tới thời điểm này trong hạ lưu vực đã góp phần làm bộc lộ tác động của đập. Có hay không, và tại sao, lòng sông phơi đáy và sự đổi màu nước sông Mekong tại Nakhon Phanom?

(4) Việc cắt giảm lượng nước xả ra về hạ du từ đập Jinghong đầu năm 2019 minh chứng một lần nữa sự mẫn cảm, sự phụ thuộc cao độ của dòng chảy sông Mekong ở hạ lưu vực vào việc vận hành các đập thủy điện ở Trung Quốc. 

Sự phụ thuộc này còn cần được đặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu (mà sự khan hiếm nước ngọt ngày càng cao được dự báo) và chiến lược “Hưng thủy cường điền” đã và đang được thực thi ở Trung Quốc. Tại Vân Nam, với hơn 30 hồ nước và hơn 5500 “thủy khố”, dung lượng lưu giữ tăng thêm năm 2017 là 1,22 tỷ m3 6

(5) Biển Hồ Tonle Sap (BH) đóng vai trò quan trọng trong việc làm chậm lũ về đồng bằng sông Cửu Long đầu mùa mưa, đồng thời cung cấp nước ngọt cho đồng bằng này vào đầu mùa khô thông qua sông Tonle Sap. 

Nước chảy vào BH hay theo chiều ngược lại tùy thuộc vào chênh lệch mực nước giữa hai trạm Prekdam và Kompong Luong dương hay âm. Đường mực nước ngày trung bình nhiều năm tại Prekdam và tại Kompong Luong giao nhau ngày 25 tháng 3, ngày nước bắt đầu chảy vào Biển Hồ, và ngày 24 tháng 10, ngày nước chảy theo chiều ngược lại.

Hình 13. Mực nước ngày trung bình dài hạn tại các trạm Prekdam và Kompong Luong


Biển Hồ, Tonle Sap và châu thổ Mekong

 
Trên thực tế, qua số liệu thực đo việc nước đổi chiều chảy vào BH diễn ra trong một thời đoạn (T). Hình 14 thể hiện trường hợp hai năm hạn hán 2015, 2019.
Trong thời đoạn (T) phương trình  Hpkd – Hkpl = 0  có nhiều nghiệm và nước sông Tonle Sap luân phiên chảy vào Biển Hồ khi hàm Hpkd – Hkpl > 0, và chảy ra trong trường hợp ngược lai.
Mùa khô năm 2015-2016, (T) kéo dài từ 25.05 đến 12.07 và trong thời gian này chủ yếu nước từ Biển Hồ chảy ra. Từ ngày 13.07 nước từ Prekdam mới liên tục chảy vào Biển Hồ. Hình 14, trái.
 

Hình 14. Thời đoạn (T) đầu mùa khô năm 2015 và năm 2019

Nửa đầu mùa khô 2019-2020, nước luân phiên chảy vào và chảy ra từ 09.05 đến 29.07.2019. Chủ yếu chảy vào từ 09.09 đến 05.06 và sau đó chủ yếu chảy ra và liên tục chảy ra từ ngày 30.07.2019. (Hình 14, bên phải).
Ở những năm khác thời đoạn (T) ngắn hơn. (T) thậm chí chỉ trong một ngày, như trường hợp các năm lũ lớn 2000, và 2011. (Hình 15).
 

Hình 15. (T) chỉ trong một ngày như trường hợp các năm lũ lớn 2000, 2011
 
(6) Bảng 2 (dưới đây) ghi lại biên độ mực nước cao nhất tháng trong bốn tháng đầu mùa khô các năm 1992-1993, 2003-2004 và những năm gần đây tại các trạm Châu Đốc và Tân Châu. 

 
Bảng 2 cho thấy triều Biển Đông truyền đến các trạm này ngày càng sớm hơn, với biên độ mực nước ngày càng rộng hơn. Những thay đổi này rõ nét hơn trên sông Bassac. Bảng 2 cùng với các Hình 9, 10, 11 còn cho thấy ở nửa đầu của mùa khô 2019 – 2020, triều truyền xa hơn trên sông Mekong, sông Bassac và ảnh hưởng của nó được nhận thấy tại trạm Prekdam.
Tình trạng này, và đi cùng với nó là xâm nhập mặn, có phải do biến đổi khi hậu, nước biển dâng? do lượng nước từ thượng nguồn về châu thổ ngày càng giảm? hay do khai thác cát quá mức và thiếu quản lý nên gây sạt lở bờ sông và lòng sông bị dào sâu, và do đó làm thay đổi mặt cắt các sông, đặc biệt về chiều sâu? 
Nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây cung cấp thông tin về việc khai thác cát trong hạ lưu vực, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long7, làm trầm trọng thêm cán cân trầm tích của sông Mekong, đã âm bởi các đập thủy điện ở Thượng lưu vực8; về việc lòng dẫn của sông Mekong và các nhánh cũng như của sông Bassac bị đào sâu tại rất nhiều vị trí9; và về truyền triều trong châu thổ sông Mekong10. 
Trả lời cho câu hỏi, có cả ba lý do, nhưng ở thời điểm hiện tại, lý do thứ hai và thứ ba là chủ yếu, những lý do này đều là hậu quả của tác động từ con người. 
(7) Các nhận xét trên đây có quan hệ với nhau. Hạn hán, nguồn nước về giảm, khai thác cát không được quản lý tốt, mặt cắt sông rộng hơn, lòng sông sâu hơn… không tác động riêng lẻ mà cùng lúc và liên hoàn với nhau.
Khuyến nghị
(1) Cần theo dõi sát sao tác động của đập Xayaboury ngay từ năm hoạt động đầu tiên. Từ những bài học rút ra đánh giá lại đầy đủ tác động của các đập thủy điện khác trên dòng chính sông Mekong, đặc biệt của đập Sambor đối với sinh thái của lưu vực Biển Hồ và của châu thổ sông Mekong từ bao đời nay gắn kết với nhau.
Trong nửa đầu mùa khô năm nay mực nước ở Tân Châu và Châu đốc thấp, truyền triều vào sớm hơn, xa hơn, vượt qua hai trạm. Do đó xâm nhập mặn không chỉ có nguyên nhân biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Còn có tác động từ con người từ thượng nguồn xuống đến châu thổ ra Biển Đông. Vì vậy,
(2) Khai thác nguồn nước sông Mekong không thể chỉ có quyền lợi mà còn có trách nhiệm của các quốc gia trong lưu vực. Vấn đề an ninh nguồn nước là một vấn đề xuyên biên giới không thể không giải quyết. 
(3) Quản lý và quản trị cuả Nhà nước phải nghiêm và hiệu quả hơn nữa, nhất là đối với việc khai thác cát, sỏi, sạn trên các nhánh sông Mekong và sông Bassac.  
(4) Ngoại giao về nước, trong nội khối ASEAN và giữa năm nước ASEAN với Trung Quốc cần được sớm đặt vào chương trình nghị sự của các quốc gia trong lưu vực và các thể chế có liên quan. 
+ Các nước Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam cần đổi mới “Quy trình thông báo, tham vấn trước và thỏa thuận” (PNPCA), một trong những quy định cơ bản của Hiệp định Mekong 1995, làm cho nó hiệu quả hơn.
+ Sông Mekong, từ khởi nguồn ra đến biển là một con sông quốc tế, không thể chia cắt. Nó cần được quy định bởi một công ước quốc tế. 
Sông Mekong không là trường hợp đơn lẻ. Các sông Nu-Salween, Indus, Brahmaputra… cũng bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng. Nhiều sông quốc tế như sông Rhine, sông Danube, đã được các Công ước quốc tế điều chỉnh. Tại sao không thể xây dựng một công ước như vậy cho sông Mekong, từ Tây Tạng ra đến Biển Đông ?11 Khó nhưng không phải không thể. 
Cảm ơn. Bài viết này đã sử dụng các cơ sở dữ liệu của Ủy hội sông Mekong. Tác giả chân thành cảm ơn.
---
Chú thích:
* Giáo sư đại học, TSKH Chủ nhiêm Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long, Đại biểu Quốc hội (1992-2007). nntran2010@gmail.com.
** Bài viết cập nhật, bổ sung một số thông tin và khuyến nghị so với bản tác giả công bố trên Đất Việt:
---
Tài liệu tham khảo
1 Các hệ số A và B đã được Trịnh Quang Hòa và Nguyễn Ngọc Trân sử dụng trong mô phỏng Dòng chảy của sông Mekong từ Chiang Saen đến Tân Châu và Châu Đốc (1993), in Kỷ yếu của Hội nghị khoa học tại Cuộc họp thường niên lần thứ 78 của Hội Quốc tế các Đập Lớn (ICOLD), Hanoi, 25-26 tháng 5, 2010.
2 Số liệu và đồ thị trong bài viết được trích xuất từ http://ffw.mrcmekong.org/stations.php
3 Max, Min và Avg dược MRC tính trên chuỗi số liệu (1980-2019).
4 Chế độ vận hành của tất cả các đập thủy điện trên thượng lưu vực không được thông báo cho MRC và các quốc gia thành viên. Phia Trung Quốc chỉ thông báo cho MRC những gì và vào lúc họ cho là cần.
5 Đập Jinghong hiện là đập sát biên giới hạ lưu vực. Trung Quốc có kế hoạch xây dựng hai đập thủy điện khác gần biên giới hơn nữa là Ganlanba và Mengsong.
6 Đỗ Tiến Sâm, Hợp tác phát triển bền vững Mekong-Lan Thương trong bối cảnh mới, báo cáo tại Hội thảo quốc tế “Hợp tác quản lý nguồn nước Tiểu vùng sông Mekong mở rộng” do Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, và Konrad Adenauer Stiftung đồng tổ chức, tại Hà Nội ngày 16.10.2018.
7 Bravard, J.-P., Goichot, M. & Gaillot, S. 2013, Geography of Sand and Gravel Mining in the Lower Mekong River. EchoGéo, 26, https://doi.org/10.4000/echogeo.13659.
8 Kondolf G. M. et al. 2017, Changing sediment budget of the Mekong: Cumulative threats and management strategies for a large river basin, Science of the Total Environment, Volume 625, 1 June 2018, Pages 114-134
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0048969717334198?via%3Dihub
9 Anthony, E.J. et al, 2015. Linking rapid erosion of the Mekong River delta to human activities. Scientific Report 5, 14745. https://doi.org/10.1038/srep14745.
10 Eslami, S., Hoekstra, P., Nguyen Trung, N. et al. 2019, Tidal amplification and salt intrusion in the Mekong Delta driven by anthropogenic sediment starvation. Sci Rep 9, 18746, https://doi.org/10.1038/s41598-019-55018-9
11 Nguyễn Ngọc Trân, Mekong là một con sông quốc tế và không chia cắt, tham luận tại Hội thảo quốc tế “Hợp tác quản lý nguồn nước Tiểu vùng sông Mekong mở rộng”, do Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, và Konrad Adenauer Stiftung đồng tổ chức tại Hà Nội, ngày 16.10.2018.