Bụi thô PM10 chiếm hơn 85% tổng bụi trong không khí Hà Nội
Một nghiên cứu mới đây cho biết, hơn 85% lượng bụi ở Hà Nội là bụi thô kích thước PM10 - loại bụi có nguồn gốc chủ yếu từ đất, vật liệu xây dựng và giao thông, chứ không chỉ là bụi mịn PM2.5 như thường được nhắc tới. Đáng chú ý, các hạt bụi này chứa 17 nguyên tố kim loại, trong đó nhiều nhất là silic, canxi, lưu huỳnh, nhôm…

Cứ vào dịp từ tháng 10 năm nay đến tháng 4 năm sau, tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội và một số địa phương lân cận lại khiến người ta lo ngại. Các chỉ số ô nhiễm, đặc biệt là hàm lượng bụi mịn PM2.5 luôn luôn ở mức cảnh báo đỏ và tím – mức khuyến cáo ngay cả người khỏe mạnh cũng hạn chế ra ngoài trong thời gian dài. Ở mức này, không khí ô nhiễm khả năng ảnh hưởng về lâu dài tới sức khỏe, đặc biệt là tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp, tim mạch hoặc làm trầm trọng hơn các bệnh mãn tính.
Chính vì vậy, việc xác định bụi đến từ đâu, gồm những loại nào và chiếm tỷ trọng ra sao là câu hỏi quan trọng đối với cả giới nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách.
Là một trong những nỗ lực đó, nhóm nghiên cứu của PGS. TS Hoàng Anh Lê, Khoa Môi trường, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN, đã thực hiện nghiên cứu về tổng bụi lơ lửng (Total suspended particulate) – tất cả các hạt rắn và lỏng lơ lửng trong không khí ở các kích thước khác nhau, từ hạt bụi thô PM10, bụi mịn PM2.5, và bụi siêu mịn PM0.1.
Việc phân tích các mẫu bụi thu thập theo phương pháp chụp ảnh kính hiển vi điện tử quét (SEM) và phát xạ tia X cảm ứng hạt PIXE giúp nhóm nghiên cứu đánh giá về phân bố và hình thái hạt bụi cũng như xác định nguồn gây ra ô nhiễm bụi.
Kết quả cho thấy, nồng độ bụi của Hà Nội cao hơn nhiều so với nồng độ bụi ở TPHCM năm 2019 cả trong mùa mưa và mùa khô, trong đó nồng độ tổng bụi lơ lửng nội đô mùa khô và mùa mưa không chênh lệch quá nhiều, lần lượt là 105,5 ± 32,4 mg/m3 và 107,5 ± 17,1 mg/m3. Còn ở vùng ven đô, nồng độ tổng bụi lơ lửng vùng ven đô có sự khác biệt rõ rệt giữa hai mùa, với 102,8 ± 39,5 mg/m3 và 80,1 ± 18,1 mg/m3 – thấp hơn đáng kể so với nội đô.
“So với một số quốc gia xung quanh, kết quả nghiên cứu này cao hơn ở Thái Lan (58,3 ± 7,8 mg/m3) năm 2019. Tuy vậy nồng độ tổng bụi lơ lửng ở Hà Nội vẫn thấp hơn nhiều so với thành phố Delhi, Ấn Độ năm 2019”, nhóm tác giả viết trong công bố.
Nhìn vào kích thước của hạt bụi, kết quả cho thấy hạt bụi PM10 chiếm tỷ lệ lớn với 85% tổng bụi lơ lửng. Với hạt bụi kích thước nhỏ hơn, bụi PM2.5 và PM0.1 đều có xu hướng cao hơn ở khu vực đô thị cao cả hai mùa khô và mưa, trong đó bụi PM2.5 chiếm 63,6% mùa khô, 35,9% mùa mưa khu vực đô thị; 23,2% mùa khô, 18,9 % mùa mưa khu vực ngoại đô. Điều này cho thấy chất lượng không khí thành phố Hà Nội không chỉ chịu tác động từ các nguồn phát thải tại chỗ, mà “có thể bị ảnh hưởng lớn từ nguồn phát thải bên ngoài, khi mà các hạt bụi kích thước nhỏ có khả năng lan truyền đi xa”, nhóm nghiên cứu nhận xét.
Bụi chứa những gì?
Họ cũng đã phác họa được bức tranh thành phần của hạt bụi với 17 nguyên tố. “Nhìn chung nồng độ các nguyên tố xuất hiện trong mẫu tổng bụi lơ lửng ở khu vực đô thị cao hơn ở khu vực ngoại ô. Nồng độ trung bình của các nguyên tố trong bụi được xếp từ cao đến thấp là silic, canxi, lưu huỳnh, natri, mangan, nhôm, kali, sắt magie, kẽm, photpho, titan, mangan, chì, crom, đồng, niken”, nhóm nghiên cứu viết trong công bố. 17 nguyên tố này được họ phân vào ba nhóm, trong đó hai nhóm ở mức cao silic, canxi, lưu huỳnh và ở mức trung bình natri, mangan, nhôm, kali, sắt và clo.
Khi nhìn vào hai cụm nguyên tố này, có thể thấy phần lớn đều là các nguyên tố trong vỏ trái đất, trừ lưu huỳnh và clo. “Điều đó chứng tỏ mật độ bụi tinh thể trong không khí Hà Nội rất cao và loại bụi này là một trong những nguồn ô nhiễm chính. Có thể lý giải nguyên nhân là do tốc độ đô thị hóa rất nhanh của Hà Nội”, họ lưu ý trong công bố.
Mật độ của 17 nguyên tố trong mẫu bụi lơ lửng còn đem lại những thông tin chi tiết hơn về nguồn phát thải ô nhiễm. Các nguyên tố của silic, canxi, sắt có tỷ lệ cao đến từ quá trình đốt cháy không hoàn toàn của các loại xe máy, ô tô trong khi các nguyên tố silic, canxi, nhôm, sắt, kali và mangan cao bắt nguồn từ hoạt động xây dựng và nông nghiệp.
Trong bức tranh ô nhiễm không khí phần nhiều gam màu tối của Hà Nội cũng có lấp ló một điểm sáng hiếm hoi nhưng đáng chú ý, đó là nồng độ chì thấp. “Hàm lượng chì thấp trong không khí là tín hiệu đáng mừng, rất có thể là kết quả mà Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng trong quyết định không sử dụng xăng pha chì từ 1/11/2001”, nhóm tác giả nhận xét.
Đây là một chỉ dấu cho thấy tác động của một chính sách đúng đắn và kịp thời của các cấp chính quyền trong giải quyết một phần quan trọng của vấn đề ô nhiễm không khí, sau khi có bằng chứng của các nhà khoa học về tác hại của xăng pha chì với sức khỏe.
Vì vậy, bằng chứng khoa học từ nghiên cứu của PGS. Hoàng Anh Lê, cùng với những nghiên cứu khác về chất lượng không khí, được kỳ vọng đem lại những gợi ý cho chính sách và lộ trình giảm thiểu ô nhiễm không khí ở Hà Nội.
Kết quả được nêu trong bài báo “Characteristics of Airborne Suspended Dust in Hanoi City: Using the SEM and PIXE Methods”, xuất bản trên tạp chí VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences. Đây là một trong số những kết quả thu được từ đề tài mã số 105.08- 2023.28 do NAFOSTED tài trợ.
