Thế và lực của đất nước sau 40 năm Đổi mới là nền tảng để Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình. Nhưng tới đây, chúng ta có thể làm gì với thế và lực ấy?
Một quốc gia có nhiều tài nguyên chưa chắc đã giàu. Lực lượng lao động đông chưa chắc có năng suất cao. Có chính sách chưa chắc tạo ra phát triển nhanh. Có công nghệ hiện đại chưa chắc tạo ra năng lực cạnh tranh. Điểm quyết định là năng lực biến nguồn lực thành giá trị.
Từ góc độ đó, có thể hiểu mục tiêu của bảy định hướng cải cách, từ phương thức lãnh đạo, vận hành Nhà nước, tổ chức bộ máy, sử dụng cán bộ đến khai thác dữ liệu, công nghệ và tạo động lực tăng trưởng mới, chính là nhằm nâng cấp năng lực quốc gia. Bảy định hướng chiến lược này không phải là những nỗ lực cục bộ, mà liên kết mật thiết trong một chương trình tổng thể do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề ra, nhằm cải cách toàn bộ khả năng vận hành và phát triển của cả quốc gia.
Ảnh: Thu Nguyễn
Từ tăng trưởng nguồn lực sang tăng trưởng năng lực
Trong giai đoạn trước, phát triển thường là hệ quả của những đại lượng quen thuộc: thêm vốn, thêm lao động, thêm đất đai, thêm hạ tầng. Nhưng trong nền kinh tế tri thức, điều đó không còn đủ nữa.
Cùng một đồng vốn, các thể chế khác nhau có thể tạo ra hiệu quả khác nhau. Cùng một đội ngũ, cách dùng người khác nhau có thể tạo ra kết quả khác nhau. Cùng một dữ liệu, năng lực phân tích khác nhau có thể dẫn đến những quyết định khác nhau.
Vì vậy, thành quả phát triển của kỷ nguyên mới không đến từ việc Việt Nam có thêm bao nhiêu nguồn lực, mà từ khả năng làm cho những nguồn lực đang có tạo ra bao nhiêu giá trị mới.
Đổi mới phương thức lãnh đạo nhằm nâng cao năng lực cầm quyền; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền tạo nền tảng thể chế minh bạch và phục vụ phát triển; tinh gọn bộ máy để giảm tầng nấc, rõ trách nhiệm; đổi mới công tác cán bộ để hình thành đội ngũ có năng lực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; chuyển đổi số mở ra phương thức quản trị mới; chống lãng phí để nâng hiệu quả sử dụng nguồn lực; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo động lực tăng trưởng mới.
Đó là một chuỗi liên kết. Thể chế tạo không gian; bộ máy tổ chức thực hiện; cán bộ biến chủ trương thành hành động; dữ liệu và công nghệ nâng chất lượng quyết định; khoa học và đổi mới sáng tạo tạo ra giá trị mới.
Tính hiệu quả của tinh gọn bộ máy
Tinh gọn bộ máy thường được nhìn bằng số lượng cơ quan hoặc biên chế. Nhưng thước đo hiệu quả phải là quyết định của Nhà nước có nhanh hơn không, trách nhiệm có rõ hơn không, người dân có được phục vụ tốt hơn không, doanh nghiệp có giảm chi phí không và nguồn lực công có tạo ra nhiều giá trị hơn không?
Một bộ máy ít tầng nấc nhưng vẫn vận hành chậm và tạo ra ít giá trị công thì đó chưa phải là bộ máy tiến bộ, có năng lực cao. Để việc tinh gọn bộ máy tạo ra hệ thống tiến bộ thì thẩm quyền nên được đặt gần nơi thực thi, dữ liệu được kết nối, trách nhiệm được xác định và người đứng đầu được đánh giá bằng kết quả.
Tinh gọn thực chất không phải làm cho bộ máy nhỏ đi, mà làm cho mỗi đơn vị của bộ máy tạo ra nhiều giá trị công hơn.
Quản trị cán bộ nhìn từ kết quả
Yêu cầu cán bộ "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm", có mô hình và cam kết sản phẩm đặt ra một thay đổi quan trọng trong quản trị.
Kết quả công việc của người đứng đầu không chỉ được nhìn qua số cuộc họp đã chủ trì hay số văn bản đã ký, mà chủ yếu thể hiện ở chất lượng thay đổi diễn ra nơi địa phương, ngành, cơ quan mà người đó phụ trách.
Một chính sách tháo được điểm nghẽn nào? Một chương trình khoa học tạo ra sản phẩm hoặc năng lực mới nào? Một cuộc cải cách hành chính giảm được bao nhiêu thời gian, chi phí cho xã hội? Một quyết định đầu tư tạo ra giá trị gì?
Nếu được cụ thể hóa bằng tiêu chí minh bạch, tư duy "cam kết sản phẩm" có thể đưa quản trị cán bộ gần hơn với quản trị theo kết quả, để "dám nghĩ, dám làm" không chỉ là một phẩm chất được khuyến khích mà trở thành năng lực có thể nhận diện và đánh giá.
Chuyển đổi số phải thay đổi cách ra quyết định
Một nguy cơ của chuyển đổi số là đưa những quy trình cũ lên máy tính rồi gọi đó là chuyển đổi. Nếu quy trình vẫn giữ nguyên, dữ liệu vẫn nằm trong những "ốc đảo" riêng biệt và quyết định vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thì công nghệ mới thực chất chỉ làm nhanh hơn những quy trình vận hành đã cũ.
Giá trị tầng cao hơn của chuyển đổi số là quản trị bằng dữ liệu: từ dữ liệu nhìn thấy xu hướng, từ xu hướng đưa ra dự báo, từ dự báo lựa chọn phương án.
Khi trí tuệ nhân tạo phát triển, không gian đó còn mở rộng. Vì vậy, chuyển đổi số có thể là cuộc thay đổi phương thức quản trị quốc gia.
Trong tổng thể các định hướng lớn về kỷ nguyên mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vì thế không chỉ hỗ trợ tăng trưởng, mà phải trở thành năng lực cốt lõi của mô hình phát triển mới.
Chống lãng phí là giải phóng nguồn lực
Lãng phí không chỉ là thất thoát ngân sách. Một dự án chậm tiến độ là lãng phí. Một tài sản công bỏ không là lãng phí. Một phòng thí nghiệm không được khai thác, một cơ sở dữ liệu không kết nối, một sáng chế không được thương mại hóa đều có thể là lãng phí. Thời gian người dân và doanh nghiệp phải bỏ ra cho những thủ tục không cần thiết cũng là một dạng lãng phí.
Do đó, chống lãng phí có thể được nhìn như một phần của quản trị tài sản phát triển quốc gia: đưa vốn, đất đai, dữ liệu, tri thức, công nghệ, con người và thời gian đến những nơi tạo ra giá trị cao hơn.
Một trong những nguồn lực lớn nhất của Việt Nam có thể không phải là thứ cần tìm thêm, mà là những nguồn lực đang có nhưng chưa được giải phóng đầy đủ.
Cuối cùng là một nền kinh tế có khả năng tự đổi mới
Mục tiêu cuối cùng của cải cách vẫn phải là tăng trưởng và nâng cao đời sống. Đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đòi hỏi chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào đầu vào sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất và năng lực sáng tạo.
Một nền kinh tế mạnh không chỉ có nhiều doanh nghiệp hơn, mà phải có khả năng liên tục sinh ra doanh nghiệp mới. Không chỉ nhập công nghệ, mà từng bước tạo ra công nghệ. Không chỉ đào tạo nhân lực, mà tạo ra nhân lực có khả năng sáng tạo. Không chỉ mở rộng thị trường, mà tạo ra sản phẩm và mô hình kinh doanh mới. Đó là cách nền kinh tế tạo ra động lực tăng trưởng từ chính năng lực của mình.
Kỷ nguyên mới bắt đầu từ hàng triệu thay đổi nhỏ
Một định hướng chiến lược chỉ thực sự trở thành năng lực quốc gia khi nó đi qua từng tổ chức và từng con người.
Ở cấp lãnh đạo, đó là khả năng lựa chọn đúng vấn đề chiến lược. Ở chính quyền, đó là khả năng giải quyết điểm nghẽn. Ở Hội đồng nhân dân, đó là chất lượng quyết định và giám sát nguồn lực. Ở doanh nghiệp, đó là đổi mới công nghệ và năng suất. Ở nhà khoa học, đó là đưa tri thức thành sản phẩm và giá trị. Ở người lao động, đó là học tập và nâng cao kỹ năng. Ở mỗi người dân, đó là khả năng chủ động tham gia vào quá trình phát triển.
Khi những thay đổi ấy được nhân lên hàng triệu lần, chúng tạo thành thay đổi ở quy mô quốc gia. Kỷ nguyên vươn mình chỉ thực sự bắt đầu ở thời điểm năng lực phát triển của đất nước được nâng lên một cấp độ mới.
Quốc gia mạnh không chỉ ở chỗ có nhiều nguồn lực. Quốc gia mạnh là quốc gia biết biến nguồn lực thành năng lực, biến năng lực thành giá trị và biến giá trị hôm nay thành năng lực phát triển của ngày mai.
Vươn mình, vì thế, không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn mà còn là học hỏi nhanh hơn, đổi mới nhanh hơn, ra quyết định tốt hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và liên tục tạo ra động lực phát triển mới.
Đó là cách một dân tộc không chỉ bước vào một kỷ nguyên mới, mà xây dựng được năng lực để liên tục tiến lên trong kỷ nguyên ấy.