Xã hội ngày càng cởi mở hơn với người đồng tính. Trong ảnh: Cộng đồng LGBTQ+ trong sự kiện Ngày hội Tự hào diễn ra vào chiều 24/9/2023 tại Hà Nội. Tác giả: Tùng Đinh
Chỉ cần kiên nhẫn quan sát mạng xã hội, ta có thể bắt gặp sự tương phản trong nền văn hóa phán xét công cộng. Nếu một người có sức ảnh hưởng thuộc nhóm đa số dị tính vướng vào lùm xùm tình ái hay gian lận, làn sóng phẫn nộ sẽ chĩa mũi dùi chỉ trích vào cá nhân anh ta. Đám đông gọi anh ta là "kẻ tồi tệ", "kẻ lừa đảo". Danh dự của anh ta sụp đổ, nhưng sự sụp đổ ấy không kéo theo bản án nào dành cho những người dị tính khác.
Nhưng khi nhân vật trung tâm của một vụ bê bối tương tự thuộc cộng đồng LGBTIQ+, phản ứng của công chúng lập tức thay đổi. Các bình luận trên mạng nhanh chóng chuyển từ việc phán xét một con người sang kết án một quần thể: "Cái bọn bóng gió này toàn thế", "Làm xấu mặt cả cộng đồng LGBT", hay tinh vi hơn là thứ lòng khoan dung trịch thượng: "Mình không ghét LGBT, chỉ cần đừng làm lố là được".
Sự bất công mang tính hệ thống này bắt rễ từ cách bộ não con người xử lý thông tin xã hội. Về mặt nhận thức, để giảm tải cho quá trình xử lý thông tin, bộ não của chúng ta có xu hướng nhìn nhận các thành viên của một nhóm khác (nhóm ngoại lai) là na ná nhau, trong khi luôn thấy nhóm của mình là đa dạng và phức tạp [1].
Hiệu ứng đồng nhất hóa nhóm ngoại lai góp phần lý giải vì sao các nhóm đa số thường dễ dàng diễn giải hành vi của mình theo hướng cá nhân hóa, có người tốt kẻ xấu, vĩ nhân và tội phạm, nhưng lại có xu hướng quy nạp hành vi của nhóm thiểu số thành đặc điểm chung của cả một tập thể.
Sự kiện VietPride ngày 25/8/2018 tại TP HCM nhằm ủng hộ đa dạng giới tính và kêu gọi sự công nhận của xã hội. Ảnh: Hoàng Dũng
Áp lực từ cái nhìn soi xét của xã hội chủ lưu có thể sinh ra một hệ lụy khác: nó quay ngược vào trong và làm nảy sinh những căng thẳng ngay tại cộng đồng yếu thế.
Dù xã hội hiện đại ngày càng cởi mở hơn với người đồng tính, sự chấp nhận đó đôi khi vẫn đi kèm kỳ vọng ngầm về sự "hòa nhập" của họ với các chuẩn mực xã hội hiện hành. Những người đồng tính thành đạt, ổn định về kinh tế, xây dựng gia đình hoặc có lối sống tương đồng với tầng lớp trung lưu dị tính thường được nhìn nhận tích cực hơn. Trong khi những biểu hiện bị xem là quá "lệch chuẩn" hay ồn ào có thể vẫn phải đối mặt với sự phán xét.
Khi khả năng được sống yên ổn phụ thuộc vào việc "trông có vẻ hòa nhập", một bộ phận trong cộng đồng sẽ chủ động điều chỉnh hành vi theo các chuẩn mực của nhóm đa số, và từ đó gây áp lực lên những người còn lại.
Tại Việt Nam, nghiên cứu 'Có phải bởi vì tôi là LGBT?' của Viện iSEE [2] chỉ ra, để sống sót qua sự săm soi, hơn 70% người thuộc cộng đồng LGBTIQ+ phải liên tục che giấu thân phận hoặc tự thay đổi ngoại hình, cử chỉ cho 'chuẩn mực' tại nơi làm việc và trường học.
Lựa chọn này giúp giảm thiểu xung đột với các chuẩn mực xã hội hiện hành và tạo ra những điểm tiếp xúc dễ chấp nhận hơn với nhóm đa số, nhưng đồng thời thiết lập những ranh giới loại trừ. Những biểu hiện bị xem là lệch chuẩn, phô bày hoặc mang tính thách thức - đặc biệt là những gì được cảm nhận là mối "đe dọa" đối với trật tự dị tính - có nguy cơ bị gạt ra ngoài, không chỉ bởi ánh nhìn của xã hội chủ lưu, mà còn từ chính bên trong cộng đồng.
"Làm ơn bớt ẻo lả lại đi cho người ta đỡ ghét." "Sống tốt là được rồi, cần gì phải đi diễu hành làm lố." "Đóng cửa yêu nhau thì có sao, khoe khoang trên mạng làm gì." Những bình luận này, đôi khi đến từ chính người trong giới, cho thấy một thực tế: các cá nhân có thể tự điều chỉnh hoặc giới hạn lẫn nhau để phù hợp hơn với các chuẩn mực "bình thường" của xã hội.
Việc liên tục bị phán xét bởi người ngoài và bị giám sát bởi người nhà đẩy hệ thống thần kinh của người thiểu số tính dục vào trạng thái siêu cảnh giác (hypervigilance) [3]. Họ phải quét môi trường xung quanh để đánh giá mức độ an toàn, đo lường từng ánh mắt, từng câu nói nửa đùa nửa thật, kiềm chế phản ứng để không bị gán nhãn "nhạy cảm quá mức".
Về cơ bản, cơ thể con người không được thiết kế để chịu đựng trạng thái căng thẳng kéo dài theo kiểu âm ỉ mỗi ngày [4]. Trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận (HPA) được sinh ra để xử lý những tình huống căng thẳng, lo âu, nguy hiểm và có điểm kết thúc (khi tình huống qua đi). Nhưng "căng thẳng thiểu số" lại không có điểm tắt.
Kết quả là trục HPA bị kẹt trong trạng thái hoạt động dở dang. Hormone cortisol không còn lên xuống theo nhịp bình thường của cơ thể mà luôn giữ ở mức nền cao. Lúc đầu, cortisol giúp cơ thể thích nghi với căng thẳng nhưng nếu căng thẳng kéo dài mãi, nó sẽ bắt đầu bào mòn cơ thể từ bên trong [4]. Khi đó, hệ miễn dịch phản ứng chậm hơn. Các phản ứng viêm xuất hiện ở mức thấp nhưng kéo dài, âm thầm tích tụ. Quá trình sửa chữa tế bào trở nên kém hiệu quả, kéo theo dấu hiệu lão hóa đến sớm hơn so với bình thường [5]. Đây là cái giá sinh học có thể phải trả khi cơ thể bị buộc thích nghi quá lâu với áp lực.
Toàn bộ sự vận hành của định kiến nhận thức, văn hóa tự kiểm duyệt và tổn thương sinh học đều chỉ ra một thực tế: vẫn tồn tại những bất bình đẳng đối với người LGBTIQ+, dù có thể dưới những hình thức ngầm ẩn, tinh vi và khó nhận diện hơn.
Trong hoàn cảnh đó, bình đẳng không nên được giản lược thành những hình ảnh mang tính biểu tượng như các cuộc diễu hành rực rỡ hay một vài câu chuyện truyền cảm hứng làm bằng chứng cho sự tiến bộ. Nó cũng không nằm ở việc người LGBTIQ+ được tôn trọng vì họ xinh đẹp, tài năng, hay thành đạt hơn người.
Bình đẳng, đó là khi một người không cần phải trở nên đặc biệt hay vượt trội thì mới được đối xử như người bình thường, chỉ đại diện cho chính họ.
---
Tài liệu tham khảo:
[1] Judd, C. M., & Park, B. (1988). Out-group homogeneity: Judgments of variability at the individual and group levels. Journal of Personality and Social Psychology, 54(5), 778–788. https://doi.org/10.1037/0022-3514.54.5.778
[2] Đinh, H. H., Đặng, T. D., & Ngô, H. N. H. (2023). "Có phải bởi vì tôi là LGBTI?": Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục, bản dạng giới và đặc điểm giới tính. Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE). https://thuvien.lgbt/vi/documents/co-phai-boi-vi-toi-la-lgbti-phan-biet-doi-xu-dua-tren-xu-huong-tinh-duc-ban-dang-gioi-va-dac-diem-gioi-tinh
[3] Meyer, I. H. (2003). Prejudice, social stress, and mental health in lesbian, gay, and bisexual populations: Conceptual issues and research evidence. Psychological Bulletin, 129(5), 674–697. https://doi.org/10.1037/0033-2909.129.5.674
[4] McEwen, B. S. (1998). Protective and damaging effects of stress mediators. New England Journal of Medicine, 338(3), 171–179. https://doi.org/10.1056/NEJM199801153380307
[5] Epel, E. S., Blackburn, E. H., Lin, J., Dhabhar, F. S., Adler, N. E., Morrow, J. D., & Cawthon, R. M. (2004). Accelerated telomere shortening in response to life stress. Proceedings of the National Academy of Sciences, 101(49), 17312–17315. https://doi.org/10.1073/pnas.0407162101