Các khu vực tương tự Làng Nủ phổ biến ở miền núi
Có lẽ chưa mấy ai quên thảm kịch lũ quét và sạt lở sau bão Yagi năm 2024. Sau mưa lớn do hoàn lưu bão Yagi, sạt lở và lũ quét đã san phẳng Làng Nủ (Lào Cai), cướp đi 67 sinh mạng. Hay gần đây hơn, lũ quét và sạt lở ở Mường Than (Lai Châu) vào tháng Bảy cũng đã khiến 18 người thương vong, hàng trăm gia đình bị cô lập.
Đó là ví dụ cho hiện tượng đa thiên tai gần đây. Trong một chuỗi như vậy, tai biến đầu tiên kích hoạt hoặc làm gia tăng tai biến tiếp theo khiến mức độ nguy hiểm và phạm vi ảnh hưởng gia tăng nhanh chóng. Do sườn dốc vốn đã bị phong hóa, nứt nẻ, biến dạng, mất ổn định âm ỉ từ lâu trước đó, gặp mưa lớn làm gia tăng độ bão hòa và tăng áp trong các lỗ rỗng trong đất, từ đó kích hoạt sạt trượt. Đất đá, cây cối sau đó có thể đổ xuống lòng suối, gây nghẽn dòng; nếu điểm nghẽn bị phá vỡ, lượng nước và đất đá tích tụ phía sau có thể được giải phóng đột ngột, hình thành dòng lũ lớn về phía hạ lưu.
Điều đáng nói là khu vực có đặc điểm địa hình, địa chất tiềm ẩn nguy cơ xảy ra hiện tượng đa thiên tai như Làng Nủ, Mường Than "không phải là những trường hợp cá biệt, mà khá phổ biến ở miền núi. Do đó, có rất nhiều khu vực ở nước ta hoàn toàn có thể tiếp tục gặp phải những sự cố như vậy", GS.TS Đỗ Minh Đức, Khoa Địa chất, trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN nhấn mạnh tại hội thảo khoa học "Thảm họa sạt lở và lũ quét Rasuwa (Nepal): Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm" do Trường tổ chức gần đây.
Hiện trường lũ quét làng Nủ, tháng 10/2024. Ảnh: Giang Huy
Vì vậy, theo GS.TS Đỗ Minh Đức, cần nghiên cứu cơ chế hình thành, phát triển của các chuỗi tai biến và xây dựng hệ thống giám sát, cảnh báo toàn diện hơn, thay vì chỉ theo dõi từng hiện tượng riêng lẻ.
Nhớ lại lần đi đánh giá sau thảm họa Làng Nủ, GS.TS Trần Thanh Hải - Chủ tịch Hội đồng Giáo sư liên ngành Khoa học Trái đất - Mỏ, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ - Địa chất, cho hay, ông được người dân địa phương chia sẻ khoảng hai, ba ngày trước khi xảy ra thảm kịch, khu vực này đã có những biểu hiện bất thường, nhưng không có ai lên kiểm tra và đưa ra cảnh báo.
Chi tiết này cho thấy một khoảng trống khác của hệ thống cảnh báo: không phải mọi dấu hiệu bất thường đều xuất hiện tại những nơi đã được lắp đặt thiết bị quan trắc. Các vùng núi rộng lớn có vô số sườn dốc, khe suối và khu vực có nguy cơ biến đổi mà con người không thể theo dõi liên tục.
Vấn đề là trên những khu vực rộng lớn, "chúng ta không thể đặt máy móc quan trắc ở khắp nơi hay biết chính xác nên đặt thiết bị ở vị trí nào để theo dõi toàn bộ khu vực được", GS.TS Trần Thanh Hải nói. Vì vậy, cần có phương pháp dự báo, cảnh báo phòng ngừa từ xa, đặc biệt tại những khu vực được xác định là dễ bị tổn thương.
Nhiều nguồn thông tin nhưng còn rời rạc
Việt Nam hiện đã sử dụng nhiều nguồn thông tin như dự báo khí tượng, quan trắc mưa, mực nước, bản đồ nguy cơ và các dữ liệu địa hình - địa chất. Song, điểm hạn chế là hiện nay mới theo dõi hiện tượng riêng lẻ thay vì hiểu đầy đủ quá trình hình thành, biến đổi, lan truyền của đa thiên tai, từ trạng thái mưa sang biến đổi sườn dốc - sạt lở chắn dòng - lũ bùn đá, lũ quét.
Các hệ thống giám sát, cảnh báo hiện nay đã làm tốt phần đo mưa. Nhưng đo lượng mưa thôi chưa đủ, tại những khu vực có nguy cơ cao, cần theo dõi thêm trạng thái và biến dạng của sườn dốc để phát hiện quá trình mất ổn định đang diễn ra.
Chỉ riêng sạt lở đã rất đa dạng loại hình. "Có nhiều kiểu chuyển động khác nhau như trượt, đổ, lật, dòng chảy đất đá và các dạng phức hợp; vật liệu có thể là đá, đất hoặc hỗn hợp. Mỗi loại có cơ chế, tốc độ và phạm vi ảnh hưởng khác nhau. Vì vậy, bản đồ nguy cơ và hệ thống cảnh báo cũng cần phân biệt các loại hình sạt lở thay vì coi tất cả là một hiện tượng giống nhau", GS.TS. Đỗ Minh Đức giải thích.
"Để đáp ứng mục tiêu giám sát và cảnh báo đa thiên tai, cần phải phát triển thêm những công cụ, phương pháp mới thì mới có thể giải quyết triệt để, bởi phần lớn thiệt hại về người là do đa thiên tai quy mô lớn là gây ra", GS.TS Đỗ Minh Đức nhận định.
Minh họa cho nước lỗ rỗng - một mắt xích âm thầm trong chuỗi đa thiên tai từ mưa đến sạt lở, lũ bùn đá và lũ quét. Đây là hiện tượng mưa lớn thấm vào đất, làm tăng áp suất nước trong các lỗ rỗng, từ đó làm giảm sức chống trượt của sườn dốc và có thể kích hoạt sạt lở. Ảnh: GS.TS Đỗ Minh Đức
Do đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống bản đồ ở các tỷ lệ khác nhau để khoanh định các khu vực có rủi ro cao, bao phủ được các loại hình trượt lở, lũ quét. Không chỉ bản thân địa hình, địa chất mà cả các đối tượng có thể chịu tác động gồm khu dân cư, đường giao thông, công trình thủy lợi, thủy điện... cũng cần được đưa vào cơ sở dữ liệu. Từ đó mới có thể xác định nơi nào cần theo dõi liên tục, cần theo dõi dấu hiệu gì và nếu xảy ra tai biến thì những khu vực nào có thể bị tác động.
Ông cũng cho biết thêm, trên thế giới, các hệ thống cảnh báo đa thiên tai ngày càng chuyển từ theo dõi từng hiện tượng sang kết hợp nhiều nguồn dữ liệu và đánh giá tác động. Cách tiếp cận này kết hợp bản đồ nguy cơ với mạng quan trắc mưa, thủy văn và biến dạng sườn dốc; sử dụng radar, vệ tinh và cảm biến hiện trường; xây dựng các kịch bản một tai biến kích hoạt tai biến tiếp theo; đồng thời chuyển từ cảnh báo "mưa bao nhiêu" sang cảnh báo theo tác động - khu vực nào có thể bị ảnh hưởng, trong bao lâu và người dân cần làm gì.
Nhưng phát hiện được nguy cơ mới chỉ là một nửa của cảnh báo. Nửa còn lại là biến thông tin đó thành quyết định. Song song với hoàn thiện hệ thống dữ liệu cảnh báo dự báo, việc nâng cao hiểu biết của những người có khả năng ra quyết định ở các thôn làng như cán bộ cơ sở xã, thôn, các tổ đội xung kích phòng tránh thiên tai về các dấu hiệu của nguy cơ đa thiên tai. Quyết định sơ tán người dân kịp thời của vị hiệu trưởng một trường học ở Nepal hay trưởng thôn Kho Vàng (Lào Cai) là những ví dụ tiêu biểu cho thấy khi chưa thể ứng dụng được công nghệ dự báo, chưa có kinh phí để lắp đặt hệ thống cảnh báo sớm và xây dựng các giải pháp công trình thì các giải pháp phi công trình như quản lý, chuẩn bị về kỹ năng cho người dân và lãnh đạo cũng sẽ giảm thiểu đáng kể các thương vong về người.
Thông lệ quốc tế cho thấy, cảnh báo đa thiên tai không được xây dựng bằng cách gom tất cả chức năng vào một cơ quan, mà bằng cách liên kết các cơ quan đang nắm những phần khác nhau của bài toán. Theo hướng dẫn của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO)*, cơ quan khí tượng - thủy văn hợp tác với các cơ quan quản lý thiên tai, cơ quan khoa học và các cộng đồng địa phương để kết hợp thông tin về hiểm họa với dữ liệu nguy cơ. WMO khuyến nghị các bên xác lập rõ cơ chế phối hợp, cho phép chia sẻ dữ liệu và phối hợp từ khi phát cảnh báo đến ứng phó, phục hồi.
Về lâu dài, nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng quy hoạch chiến lược phát triển tổng thể các vùng đất dốc để ứng phó với đa thiên tai, trong đó có sự tham gia nghiên cứu từ các ngành Khoa học Trái đất.
Theo đó, cần xây dựng quy trình, hướng dẫn và kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng các công trình dân dụng, giao thông, thủy lợi, thủy điện,... trong vùng có rủi ro trượt lở, có xét đến thiên tai cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu. GS.TS Đỗ Minh Đức dẫn ví dụ: trước khi có quy định về xây dựng trên đất dốc năm 1952, thành phố Los Angeles (Mỹ) đã có 10,4% số công trình bị thiệt hại; tuy nhiên, sau khi quyết liệt áp dụng quy trình, tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 0,15%.
Trong quy hoạch, cần đặc biệt quan tâm tác động của các chuỗi tai biến đến công trình thủy lợi, thủy điện nhỏ ở vùng núi. Sạt lở hoặc dòng lũ bùn đá có thể đưa một lượng vật liệu rất lớn vào lòng sông, hồ chứa, gây bồi lấp, làm mực nước tăng nhanh, cản trở dòng chảy hoặc ảnh hưởng đến an toàn công trình.
GS.TS Đỗ Minh Đức và nhóm nghiên cứu đã phát triển hệ thống cảnh báo ba cấp độ (Trung bình - Cao - Rất cao) với ứng dụng "Sạt lở Việt Nam" trên các thiết bị sử dụng hệ điều hành Android và iOS.
Ứng dụng này hiện tại cảnh báo nguy cơ trượt lớn, sạt lở và lũ quét chủ yếu dựa trên lượng mưa/ngưỡng nguy cơ, với các ưu điểm như: cập nhật liên tục 20 phút/lần, bao gồm toàn bộ vùng đất dốc Việt Nam; chi tiết đến từng vị trí, khu tập trung dân cư, thôn, bản; cung cấp thông tin lượng mưa ngày, 1 giờ - 3 giờ - 6 giờ trong vùng xung quanh người dùng (bán kính vùng do người sử dụng tùy chọn, từ 100m đến 3.000km).
---
Chú thích:
* World Meteorological Organization. Guidelines on Multi-hazard Impact-based Forecast and Warning. Link: https://etrp.wmo.int/pluginfile.php/42254/mod_page/content/18/WMO-1150_multihazard-guidelines_en.pdf?