Đây là phát hiện mới của các nhà khảo cổ học về một trong những con thuyền gỗ cổ hiếm hoi được bảo lưu tương đối toàn vẹn trong trầm tích tại miền Bắc, có ý nghĩa đặc biệt đối với khảo cổ học môi trường và lịch sử giao thương dưới thời Đông Sơn - nền văn minh buổi đầu dựng nước của người Việt.
Toàn cảnh thuyền cổ nhìn từ trên xuống. Ảnh: TS Phạm Văn Triệu cung cấp
Tổng số mẫu thực vật thu được và có khả năng định danh lên tới hàng trăm mẫu riêng lẻ, trong đã xác định có ít nhất 20 đơn vị phân loại thực vật (taxon - có thể là họ, chi hoặc loài, tùy mức độ nhận diện được mẫu vật), theo chia sẻ của TS Nguyễn Thị Mai Hương (Viện Khảo cổ học), thành viên chính của nhóm nghiên cứu. Ngoài ra, còn có hơn 5.000 mảnh hạt/quả chưa được định danh.
Những quả sấu vẫn còn nguyên cuống sau 2.000 năm
Di tích thuyền cổ Hà Mãn được phát hiện tại xã Phú Lương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh vào đầu năm 2025, khi một người dân cải tạo đất nuôi cá và phát hiện đôi thuyền ở độ sâu 2 m.
Dựa trên kết quả nghiên cứu so sánh với kỹ thuật đóng thuyền thời Đông Sơn và phân tích niên đại C14, các nhà khoa học xác định thuyền thuộc giai đoạn Đông Sơn muộn (tức cách ngày nay khoảng 2.000 năm). Khu vực mà con thuyền được phát hiện là một vùng đất thấp ven sông thuộc lưu vực sông Thái Bình, nơi có hệ thống đường thủy nội địa phát triển mạnh.
Lấy mẫu và phân loại sơ bộ. Ảnh: TS Phạm Văn Triệu
Điều đáng chú ý là nhiều mẫu quả thu được trên thuyền cổ vẫn giữ được hình thái rất tốt sau cả nghìn năm, như quả sấu còn nguyên cuống hay quả sử quân tử còn giữ hình dạng ba cánh đặc trưng.
Lý giải về điều này, TS Nguyễn Thị Mai Hương cho biết, nhờ môi trường yếm khí và lớp trầm tích sét - bùn bao phủ trong khoang thuyền, các mẫu thực vật được bảo lưu theo hai cơ chế chính là hóa than và ngập nước không hóa than. Nghĩa là hiện vật được bảo tồn theo hai cơ chế chính: bị than hóa trong điều kiện thiếu oxy (giữ lại hình dạng bên ngoài nhưng biến đổi cấu trúc hoá học), hoặc giữ được cả hình dạng và cấu trúc tế bào nhờ nằm lâu trong môi trường ngập nước, thiếu oxy.
Từ các mẫu vật này, để tìm hiểu về cảnh quan sinh thái thời xưa, nhóm nghiên cứu đã phân tích toàn bộ vật liệu thực vật (hạt, quả, mảnh vỏ quả, cuống quả và các bộ phận thực vật khác) thu được từ trầm tích trong lòng và xung quanh hai con thuyền cổ Hà Mãn.
Mẫu trầm tích được xử lý bằng phương pháp sàng nước với kích thước mắt sàng 2-4 mm để thu hồi di tích thực vật kích thước nhỏ, sau đó được phân loại và định danh sơ bộ đến cấp họ/chi/loài dựa trên hình thái học so sánh.
Ở thuyền thứ nhất, nhóm nghiên cứu xác định được cuống quả dẻ, hạt xoan, hạt sấu, vỏ hạt mơ/mận và nhiều hạt khác. "Số lượng mẫu thực vật tăng dần từ mũi thuyền về phía lái và cao nhất tại khoang 4 đến khoang 6, cho thấy khu vực giữa và đuôi thuyền có thể được dùng chứa hàng hóa hoặc lương thực dự trữ", TS Mai Hương cho biết.
Hạt gấc được tìm thấy. Ảnh: TS Nguyễn Thị Mai Hương
Khi nghiên cứu ở con thuyền thứ hai, kết quả mà các nhà khoa học nhận được còn phong phú hơn cả về số đơn vị phân loại lẫn số lượng mảnh hạt/quả nhỏ. Đồng thời, trên con thuyền này con xuất hiện thêm các loại quả và hạt khác không có ở thuyền một như: gấc, dứa dại, sử quân tử, dâu tằm hoặc sung/vả,... phản ánh sự khác biệt về hành trình hoặc niên đại giữa hai thuyền.
Bức tranh về tuyến sản vật từ miền núi xuống đồng bằng
Hệ thống sông Thái Bình - nơi thuyền Hà Mãn hoạt động - là tuyến thủy lộ quan trọng nối trung du Bắc Giang, Bắc Ninh với đồng bằng châu thổ và cảng biển. Do đó, những phát hiện mới về thực vật trên thuyền cổ có thể sẽ giúp chúng ta thêm nhiều thông tin thú vị về đời sống kinh tế và hoạt động giao thương của người xưa.
Nhưng làm sao để biết những loại hạt và quả thu được là hàng hóa vận chuyển hay chỉ tình cờ rơi rụng vào thuyền? Nhóm nghiên cứu cho biết đã phân định điều này dựa trên 4 tiêu chí đồng thời: mật độ/tính tập trung, sinh thái loài, bằng chứng đóng gói đi kèm như vết nan đan và chốt ván, và nguồn gốc địa lý so với vị trí thuyền.
Mảnh vỏ hạt mơ/mận. Ảnh: TS Nguyễn Thị Mai Hương
Chẳng hạn, hạt và quả nào có số lượng lớn, đồng nhất và tập trung tại một số khoang cụ thể thay vì phân bố rải rác thì có thể là hàng dự trữ. Vết nan đan (giỏ/sọt) và chốt ván/đinh gỗ xuất hiện cùng lớp cũng có thể chỉ dấu cho thấy hàng hóa được đóng gói để vận chuyển. Ngoài ra, "nguồn gốc địa lý, chẳng hạn như loài nào không có nguồn gốc tại chỗ, đặc biệt loài miền núi trong thuyền đồng bằng - thì gần như chắc chắn được vận chuyển", TS Mai Hương cho biết.
Từ những dấu hiệu này, nhóm nghiên cứu đã phân loại các mẫu thực vật thu được thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất, bao gồm trám (sản phẩm miền núi, không mọc tự nhiên ven sông đồng bằng), cuống dẻ (cây rừng núi), sử quân tử (dược liệu), gấc (giá trị cao), các loài họ cam/chanh, có nhiều khả năng là hàng hóa vận chuyển. "Dẻ và trám là sản phẩm đặc trưng trung du - miền núi phía Bắc, qua đó xác nhận tuyến giao thương nội địa Bắc Bộ", TS Mai Hương cho hay.
Nhóm thứ hai, gồm gai cây gạo, dây leo, các hiện vật được xác định sơ bộ thuộc chi dâu tằm hoặc chi sung, nhưng chưa đủ đặc điểm để phân biệt chính xác, và phần lớn các mảnh gỗ không xác định, được cho là thực vật lắng đọng tự nhiên.
Cuối cùng là nhóm thứ ba - nhóm được các nhà nghiên cứu đánh giá có thể vừa là hàng hóa vừa là tàn tích tự nhiên hoặc thức ăn thủy thủ đoàn - gồm sấu và mơ/mận, xoan, táo ta, bầu bí, đậu, sơ ri.
Trong các mẫu thực vật thu được, sấu - cây gỗ lớn bản địa Bắc Bộ, có quả vị chua, thường được dùng nấu canh, làm mứt - và mơ/mận chiếm số lượng lớn nhất. "Số lượng này cho thấy đây có thể là hàng hóa/nguồn thực phẩm chủ lực, dùng để dự trữ hoặc thức ăn thủy thủ đoàn", TS Mai Hương cho hay. Thêm vào đó, các mẫu mơ/mận thu được phần lớn là các mảnh vỡ, cho thấy có thể đây là kết quả của quá trình chế biến thực phẩm trên thuyền, hoặc quá trình trầm tích.
"Sự xuất hiện đồng thời của sản phẩm rừng nhiệt đới như dứa dại, gấc và sản phẩm vùng bán ôn đới như dẻ, mơ/mận trong cùng một con thuyền là bằng chứng sinh động về chiều rộng của mạng lưới trao đổi hàng hóa trong quá khứ ở bắc Việt Nam", nhóm nghiên cứu nhận định.
Bộ sưu tập thực vật này vừa phản ánh sự lắng đọng tự nhiên, vừa phản ánh chức năng vận chuyển lương thực, nông sản, lâm sản và dược liệu, kết nối vùng núi - trung du với đồng bằng châu thổ trong mạng lưới thương mại nội địa.
Quá trình khai quật di tích thuyền cổ Hà Mãn. Ảnh: TS Nguyễn Thị Mai Hương
Để tìm hiểu sâu hơn về mạng lưới này cũng như đời sống của các cư dân cổ, theo TS Mai Hương, các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào: phân loại đến cấp loài các đơn vị phân loại còn chưa xác định được; định tuổi tuyệt đối trực tiếp các mẫu quả/hạt bằng phương pháp khối phổ gia tốc (AMS - kỹ thuật xác định tuổi vật liệu hữu cơ bằng cách đo lượng carbon-14 còn lại trong hiện vật); phân tích đồng vị bền (kỹ thuật đo tỷ lệ giữa các dạng đồng vị carbon trong hiện vật) để tái dựng điều kiện trồng trọt, khí hậu, dinh dưỡng; nghiên cứu bào tử phấn hoa. Đồng thời, tiếp tục so sánh hệ thống với hiện vật thực vật từ mạng lưới các di chỉ có cùng niên đại khác, chẳng hạn như so sánh với các di chỉ Vườn Chuối, Cổ Loa và các di chỉ ven biển.
Theo TS Nguyễn Việt (Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á), người có nhiều năm nghiên cứu về khảo cổ học vi tư liệu và thuyền cổ thời Đông Sơn, khi tiếp cận thực địa Hà Mãn, ông rất mừng vì đây là một kiến trúc mộc Đông Sơn điển hình với cấu trúc thuyền đạt đến mức đỉnh cao nhất trong tất cả các di tích thuyền gỗ cổ từng phát hiện ở Việt Nam.
Bộ sưu tập hạt quả thu được trong trầm tích thuyền là đặc trưng điển hình của sưu tập ven bờ của làng Đông Sơn. Ngoài ra, 3 mảnh gốm tìm thấy trong thuyền cũng có đặc điểm tương đồng với gốm Đường Mây / Cổ Loa.
"Đây là một di sản tuyệt vời của Việt Nam, và với cả quốc tế. Tôi nghĩ rằng cần mở rộng khai quật để nghiên cứu thêm môi trường cảnh quan và mối liên kết giữa cấu trúc nổi này với khu vực bờ sông", ông nói. "Tôi mong rằng di tích thuyền này sẽ không bao giờ bị hư hỏng và mất đi. Với kỹ thuật mộc độc đáo này, chúng ta cũng hoàn toàn có thể cùng địa phương lập hồ sơ đưa trở thành di sản của UNESCO".