| Chi chi chành chành Chữ đanh thổi lửa Lê Đạt |
Lê Đạt, trước hết và chủ yếu, là một nhà thơ. Các nhà khác nơi ông, như nhà hoạt động xã hội, nhà văn hóa, nhà nhân văn... ít nhiều đều sáng từ ánh sáng của nhà thơ. Bởi lẽ, đổi mới hệ hình tư duy ở Lê Đạt bắt đầu từ tư duy thơ.
![]() |
Như vậy, thế giới chữ, và cả ngoài chữ nữa, duy nhất chỉ có một nghĩa, hoặc chỉ có một nghĩa đúng, không còn. Người đọc, trong thể tạng mình, tự do chọn lấy một nghĩa cho mình, hoặc tùy hứng du hành qua các không gian nghĩa của chữ. Dáng-tạo-chữ Lê Đạt không phải ở chỗ đặt ra chữ mới (dù việc này ông cũng rất mê), mà (theo kiểu (chuyện) truyện (cũ) cổ viết lại) làm cho những con chữ quen thuộc, mòn vẹt phát ra những nghĩa mới, nghĩa tinh khôi, nguyên thủy. Ông mở chữ như người ta khai hoang một vùng đất mới, phát hiện ra một không gian khác, hoặc thám mã thêm được một tầng vô thức. Nhưng cũng chính ở kiểu sáng tạo độc đáo này của Lê Đạt khiến những ai đọc ông bằng hệ hình thơ cũ, sẽ thấy thơ Lê Đạt không mới, nặng về kỹ thuật, để từ đó hiểu nhầm danh hiệu tự phong phu chữ của nhà thơ, mà không hiểu rằng kỹ thuật đó không phải là thủ công hoặc cơ giới, mà là kỹ thuật của công nghệ cao, kỹ thuật gien, của thời đại tin học. Kỹ thuật ấy không ở bàn tay, khối óc mà ở sự minh thông.
Dành gần cả cuộc đời để chiến đấu đưa thơ, rộng ra là văn chương nghệ thuật, từ thân phận một công cụ trở thành một thể tự lập, có giá trị tự thân, để từ cái tư hữu này mà có quyền bình đẳng đối thoại với/ở các lĩnh vực khác nhau như xã hội, văn hóa, kinh tế, giáo dục.
Việt Nam hiện nay vốn cộng sinh hoặc đồng tồn nhiều loại diễn ngôn. Trong đó diễn ngôn quyền lực đóng vai trò chủ đạo. Diễn ngôn này bao giờ cũng mang tính độc thoại, khép kín và duy trì cái đã có. Một mặt, vẫn dùng "phương pháp truyện cổ viết lại", Lê Đạt gảy ra những từ quen thuộc, nghĩa cũ hoặc đang bị thoái hóa nghĩa như người tài, đối thoại, đối tác, vốn xã hội, trải thảm đỏ, sự trung thực của trí thức, bản sắc dân tộc..., để diễn giải lại một cách thông minh, hóm hỉnh, cập nhật và cập thế giới, khiến người nghe, người đọc phải động tâm mà nghĩ lại, nghĩ mới và nghĩ khác. Mặt khác, từ những khái niệm mới như thuyết bất định, nguyên lý bổ sung, nguyên lý loại trừ, cái khác biệt, phương pháp thử và sai... Lê Đạt muốn xây dựng một diễn ngôn quyền lực khác, quyền lực của tri thức, quyền lực của trí tuệ, dân chủ và cởi mở, để đối trọng với thứ quyền lực của quyền lực, nhằm góp phần đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, tụt hậu.
Là một người quyết liệt trong tư duy, trong đổi mới tư duy, nhưng Lê Đạt lại là người khoan hòa, cận nhân tình trong đời sống. Sự giằng co giữa hai ứng xử trái ngược này, đôi khi, làm Lê Đạt mất đi cái sức mạnh nguyên khối. có thể đây là yếu điểm/điểm yếu của người trí thức nói chung, người trí thức Việt Nam, đặc biệt là trí thức đồng bằng Bắc Bộ. Có thể đây là lối sống mát (cool), lối sống kiểu văn hóa khác với lối sóng nóng (hot), lối sống kiểu chính trị. Nhưng, biết đâu, chẳng vì thế mà Lê Đạt trở thành một nhà văn hóa, nhà nhân văn. Một người Hiền, ông-già-trẻ-nhỏ, một người minh triết.
Để xây dựng được diễn ngôn của quyền lực tri thức, nhất thiết phải có một môi trường sạch, để ánh sáng qua đấy, hoặc từ đấy phát đi không bị khúc xạ hoặc sáng lòe. Đó hẳn là lý do Lê Đạt gắn bó, lo toan với/cho Tia Sáng ngay từ buổi đầu. Và Tia Sáng nhanh chóng trở thành ngôi nhà (/ngôn ngữ vì Heidegger coi ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn tại) của Lê Đạt. Ngôi nhà ấy luôn đầy ắp con chữ và tiếng cười ấm áp, sảng khoái của ông, kể cả khi ông đã đi xa.
Mong muốn những con chữ mở nghĩa, dôi nghĩa, năng sản của người mở chữ Lê Đạt sẽ tìm được ở tâm hồn bạn đọc ngôi nhà của nó, để làm tổ và sinh sôi. Đấy là lý do Tia Sáng in tập sách này. Và cũng là lý do tôi trân trọng giới thiệu sách này với bạn đọc.
