Từ việc khai thác nguồn sử liệu còn ít được đề cập về thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Phương pháp Jakarta - Lịch sử các hoạt động bí mật của CIA thời Chiến tranh Lạnh ở Đông Nam Á và Mỹ Latin của nhà báo Vincent Bevins đã tố cáo mạnh mẽ tội ác khủng bố mà chế độ độc tài dân túy tại các quốc gia thuộc thế giới thứ ba gây ra cho hàng triệu nạn nhân trong nhiều thập kỷ. Những sự kiện tàn bạo mang tính chất diệt chủng này có lẽ đã không xảy ra nếu không có bàn tay can thiệp của chính phủ Mỹ.
Nhà văn, nhà báo Vincent Bevins (1984) từng làm việc cho Financial Times, Los Angeles Times, và The Washington Post. Ảnh: ARA
Cách nay gần hai thế kỷ, Karl Marx mở đầu Tuyên ngôn của Đảng cộng sản bằng sự mỉa mai: "Có phái đối lập nào mà lại không bị địch thủ của mình đang nắm chính quyền, buộc tội là cộng sản? Có phái đối lập nào, đến lượt mình, lại không ném trả lại cho những đại biểu tiến bộ nhất trong phái đối lập, cũng như cho những địch thủ phản động của mình, lời buộc tội nhục nhã là cộng sản?" [1].
Thực tiễn đã chứng minh nền chính trị tại các quốc gia phương Tây vào thời điểm đó, như Marx từng chỉ ra, quả thực rất ngột ngạt. Bằng việc cố tình duy trì ám ảnh về "bóng ma chủ nghĩa cộng sản", không ít đảng, phái cầm quyền lấy cớ này triệt hạ các nhóm cấp tiến có nguy cơ đe dọa vị thế lãnh đạo của họ.
Theo thời gian, phong trào "săn phù thủy" ấy chẳng những không mất đi mà ngày càng trở nên căng thẳng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh khi lan rộng từ châu Âu sang các quốc gia thế giới thứ ba.
Nước Mỹ với vị thế siêu cường vượt trội trên trái đất luôn lo lắng bị mất quyền lực và tầm ảnh hưởng về tay đối thủ Liên Xô. Đó chính là nguồn cơn cho những tấn thảm kịch được V. Bevins đề cập trong Phương pháp Jakarta.
Cuộc săn lùng mà Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy chỉ huy nhắm vào những người cộng sản trong chính quyền Mỹ vào đầu những năm 1950 dường như chỉ là một cuộc tập dượt cho những người kế thừa, mà nổi bật là J. Edgar Hoover, Giám đốc đầu tiên và nhiều năm của FBI.
Vị này, như V. Bevins mô tả: "đã bày ra một cái bẫy logic chết chóc. Nếu có người cáo buộc bạn là cộng sản, hay có cảm tình với cộng sản, sẽ không có cách chi biện hộ. Nếu bạn đơn giản đang thúc đẩy cải cách xã hội, thì chà, đó chính xác là những gì người cộng sản sẽ làm, để che giấu động cơ thật sự. Nếu số lượng những người cộng sản là không đáng kể, thì đó chỉ càng là bằng chứng cho thấy sự gian trá của họ, do các đồng chí của họ đều ẩn nấp trong bóng tối. Và nếu họ đông đảo, hay là một người cộng sản công khai, tự hào về chuyện đó, thì cũng tồi tệ không kém."
Cứ như thế, "bất kỳ điều gì chỉ ngửi mùi giống cộng sản thôi cũng bị bài trừ khỏi xã hội Mỹ lịch thiệp", bao gồm cả một số chuyên gia sáng giá nhất ở Bộ Ngoại giao với cáo buộc nuôi dưỡng cảm tình với cánh tả, đánh mất Trung Quốc vào tay cộng sản. Và cũng rất nhanh chóng, bộ máy chống cộng của Mỹ cảm thấy cần mở rộng phòng tuyến của mình đến những quốc gia trung lập. Đó là những nơi mà bàn tay của FBI không thể can thiệp mà cần thiết phải có một cơ quan tình báo.
Với tiềm lực tài chính và sức mạnh quốc gia của mình, Mỹ đã xây dựng CIA thành một cơ quan tình báo đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động đối phó với ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở nước ngoài trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Họ đã sớm "thành công" khi ngăn chặn làn sóng cộng sản diễn ra tại Ý, Hy Lạp, Iran và Philippines sau Thế chiến II với những thủ đoạn đi từ kỳ quặc đến rùng rợn.
Theo tường thuật của V.Bevins, Mỹ đã giúp chính quyền đồng minh ở Philippines sử dụng chất độc napalm cũng như xây dựng chiến dịch tâm lý chiến rằng lực lượng du kích HUK, được thành lập bởi Đảng Cộng sản Philippines và đóng vai trò lớn trong việc kháng chiến chống Nhật tại quốc gia này, là những kẻ xấu xa vì bị aswang (ma cà rồng) hút máu ăn thịt.
Trong trường hợp Indonesia, xét từ những tiêu chí ban đầu mà J.Edgar Hoover thiết lập, nước này dường như không phải là đích đến của CIA. Bởi lẽ, lực lượng của Đảng Cộng sản Indonesia (PKI) đã bị đánh bại trong cuộc nổi dậy ở Madiun vào năm 1948. Trong khi đó, người lãnh đạo Indonesia mới độc lập từ tay Hà Lan là Sukarno mang lập trường thân thiện với phương Tây.
The Jakarta Method: Washington’s Anticommunist Crusade and the Mass Murder Program that Shaped Our World của Vincent Bevins được xuất bản lần đầu vào năm 2020 và nằm trong danh sách sách chính trị hay nhất cùng năm của Financial Times và danh sách Bestseller của The New York Times. Ảnh: NN
Bất chấp sự thật hiển nhiên đó, Frank Wisner, Phó Giám đốc Kế hoạch của CIA, cho rằng "đã tới lúc phải cho Sukarno vào lò" (Phương pháp Jakarta, trang 91). Bởi lẽ, theo cách nhìn của Washington, Sukarno đã đề cao tính độc lập, tự chủ của các quốc gia thuộc địa mới được giải phóng khỏi thực dân, cũng như có thái độ trung dung với cả Liên Xô lẫn Mỹ. Do đó, loại bỏ Sukarno bằng một chính quyền thân Mỹ được xem là mục tiêu xứng đáng.
Dù vậy, các chiến lược gia của chiến tranh bí mật tại Washington không hài lòng với những giải pháp nửa vời. Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, Mỹ coi Indonesia là một chiến trường then chốt và lựa chọn hậu thuẫn quân đội nước này trong việc loại bỏ PKI khỏi đời sống chính trị. Hệ quả là trong giai đoạn 1965–1966, các chiến dịch chống cộng do quân đội Indonesia tiến hành, với sự hậu thuẫn từ phía Mỹ, đã dẫn đến các vụ bạo lực và thảm sát quy mô lớn nhằm vào những người bị coi là cộng sản hoặc có liên hệ với cộng sản.
Nhưng họ không phải những người duy nhất chịu thảm kịch này. Chiến dịch chống cộng do quân đội Indonesia tiến hành với bàn tay đạo diễn của CIA còn đẩy nhiều người Indonesia gốc Hoa sinh sống trên khắp nước này phải ly tán do họ bị đồng nhất với chủ nghĩa cộng sản và Trung Quốc. Đa số họ không thể trở về Trung Quốc bởi gần như không còn giữ mối quan hệ với quê gốc, mà phải di cư sang những miền đất xa lạ như Brasil, Argentina - những nơi về sau CIA cũng hậu thuẫn lật đổ các chính quyền cánh tả bằng cách bơm tiền cho những kẻ độc tài, dân túy thực hiện các chiến dịch đẫm máu khác.
Phương pháp Jakarta cho thấy cuộc đàn áp cánh tả tại Indonesia được các nhà hoạch định chính sách Mỹ xem là "thành công" trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh và từ đó trở thành khuôn mẫu ảnh hưởng đến việc Mỹ ủng hộ hoặc dung túng các chiến dịch chống cánh tả tương tự tại nhiều khu vực khác trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ Latin.
Trong 9 chương sách, với lối viết cô đọng, V. Bevnis cung cấp cho độc giả thêm những cạnh khía mới về Chiến tranh Lạnh. Trong cuộc chiến đó, Mỹ và Liên Xô rất ít khi thể hiện thế đối đầu trực diện. Thậm chí, trong đa số trường hợp, Đảng Cộng sản Liên Xô giữ lập trường không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, kể cả khi những quốc gia có cảm tình với Liên Xô đang chịu cảnh khốn đốn bởi âm mưu can thiệp và phá hoại của CIA.
Lịch sử cho thấy ít nhiều CIA đã đạt được mục đích triệt tiêu các chế độ trung lập có khả năng ngả sang cánh tả, vốn được nhẩm tính có lãnh thổ và dân số chiếm 2/3 thế giới, đồng thời phơi bày một sự thật đáng lên án khác. Đó là, đa số các chế độ do CIA dựng lên đều thua kém hơn nhiều so với những lãnh đạo tiền nhiệm - những cá nhân bị lật đổ, lưu đày và thậm chí là mất mạng sau chiến dịch đảo chính. Hay nói một cách khác, dường như Mỹ ngày càng hùng mạnh bởi sự bất ổn do CIA gây ra trên toàn thế giới. Và điều này dường như vẫn đúng với những sự kiện diễn ra trong thời gian qua tại các nước Liên Xô cũ, châu Á, Trung Đông, và Mỹ Latin. Tuy nhiên, đây không phải chủ đề chính mà Phương pháp Jakarta muốn làm rõ.
Là một nhà báo, trong Phương pháp Jakarta, V. Bevins có xu hướng khai thác sâu những mảnh đời chịu bi kịch từ các thảm họa do CIA gây ra, hơn là nghiên cứu một cách tổng thể về lý thuyết chống cộng và mục đích của cơ quan này. Dù vậy, rất khó tái hiện lịch sử khách quan chỉ bằng một vài tác phẩm mà cần nỗ lực nghiên cứu của nhiều thế hệ sử gia, nhất là trước những vấn đề đến nay vẫn còn khuất lấp.
---
Chú thích:
[1] Mác-Ăngghen: Toàn tập, Tập 4, tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H-1995, Tr.595.