Những năm gần đây, kỳ thi tuyển sinh trung học phổ thông (THPT) vào trường công lập trở nên hết sức áp lực.
Đây là vấn đề cần được nhìn nhận trong một bức tranh lớn hơn của hệ thống giáo dục Việt Nam. Bài viết này sử dụng dữ liệu thống kê qua hơn hai thập kỷ để trả lời ba câu hỏi: (1) số học sinh và mạng lưới trường THPT đã thay đổi ra sao; (2) sức ép hiện nay đến từ đâu; và (3) chính sách có thể làm gì trong dài hạn.
Học sinh chuẩn bị vào phòng thi môn Ngữ văn của kỳ tuyển sinh THPT, Hà Nội, sáng 30/5/2026. Ảnh: Thế Bằng
Ba giai đoạn biến động về quy mô học sinh và số trường
Trước hết, cần nhìn đồng thời hai phía: nhu cầu học THPT tăng đến đâu và mạng lưới trường học đã phản ứng nhanh đến mức nào.
Dựa trên dữ liệu, có thể thấy giai đoạn đầu, từ 2002 đến 2006, ghi nhận sự mở rộng nhanh của giáo dục THPT. Số học sinh tăng từ 2,45 triệu lên 3,08 triệu, tương đương 25,3%. Trong cùng thời gian, số trường tăng từ 1.532 lên 2.044, tương đương 33,4%. Mạng lưới trường học khi đó mở rộng nhanh hơn tốc độ tăng quy mô học sinh, góp phần cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục.
Giai đoạn hai, từ năm 2007 đến năm 2015, số học sinh giảm xuống còn 2,43 triệu, thấp hơn 21,1% so với năm 2006 [1]. Trái lại, số trường vẫn ghi nhận quá trình tăng trưởng lên đến 2.399. Diễn biến này cho thấy sự suy giảm học sinh có lẽ đến từ biến động nhân khẩu học.
Giai đoạn ba, từ năm 2015 đến nay, xu hướng đảo chiều rõ rệt. Số học sinh tăng thêm 719.211 em, từ 2,43 (năm 2015) triệu lên 3,14 triệu (năm 2024), tương đương gần 30%. Nhưng số trường THPT không hề tăng mà giảm nhẹ từ 2.399 xuống 2.378.
Đây chính là điểm thay đổi quan trọng nhất: lượng học sinh THPT tăng nhanh trở lại, trong khi khả năng mở rộng mạng lưới trường gần như chững lại. Sự lệch pha giữa hai xu hướng đã tạo ra sức ép ngày càng lớn lên hệ thống giáo dục.
Biểu đồ: Xu hướng quy mô học sinh và mạng lưới trường THPT toàn quốc từ năm 2000 đến 2025
Sức ép phân bố không đồng đều
Nhưng sức ép của cuộc thi tuyển sinh THPT chỉ bùng lên nhất thời hay đã hình thành từ trước, và liệu các địa phương có cùng chịu một mức áp lực?
Dữ liệu chỉ ra sự chênh lệch về áp lực tuyển sinh giữa các tỉnh không bất ngờ xuất hiện mà đã tồn tại từ nhiều năm trước và có xu hướng duy trì tương đối ổn định theo thời gian, hầu như ít biến động trong giai đoạn từ 2010 đến 2024. Vì vậy, đây là một mất cân đối mang tính cấu trúc, gắn với đặc điểm dân số và mạng lưới trường học của từng địa phương, chứ không phải hiện tượng bất thường của riêng một mùa tuyển sinh hay một tỉnh, thành.
Trong đó, một số địa phương chịu sức ép đặc biệt lớn. Năm 2024, bình quân cả nước có khoảng 1.322 học sinh trên một trường THPT, nhưng TP.HCM lên tới 2.149 học sinh. Kiên Giang (1.909,6), Đồng Nai (1.882,5), Bình Dương (1.850,0) và Đà Nẵng (1.743,2) cũng cao hơn đáng kể so với mức chung. An Giang ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong cả giai đoạn 2010–2024, tới 57,3%: từ khoảng 891 học sinh mỗi trường lên 1.401. Kiên Giang còn đáng chú ý hơn khi vừa thuộc nhóm cao nhất năm 2024, với 1.909,6 học sinh mỗi trường, vừa tăng gần 50% so với năm 2010. Những con số này cho thấy "điểm nóng" tuyển sinh không phân bố đều trên bản đồ.
Một tín hiệu khác cho thấy sức ép tiếp tục gia tăng ngay ở bậc THCS. Năm 2024, cả nước có 6,71 triệu học sinh THCS tại 8.458 trường, tương đương trung bình 39,4 học sinh mỗi lớp. Các em sẽ lần lượt tiến lên THPT trong những năm tới, dù quy mô thực tế còn phụ thuộc vào tỷ lệ hoàn thành THCS và lựa chọn tiếp tục học.
So với năm 2010, số học sinh trên một trường THCS năm 2024 đã tăng khoảng 62,7%; số học sinh mỗi lớp cũng trở lại ngưỡng cao gần với năm 2002. Dữ liệu THCS là một chỉ báo sớm để các địa phương dự báo nhu cầu trường lớp THPT trong giai đoạn 2025-2028.
Các lớp học ngày càng đông
Thiếu chỗ học có hai biểu hiện. Dễ thấy nhất là tỷ lệ "chọi" cao tại các trường danh tiếng hoặc những khu vực đông học sinh nhưng ít cơ sở THPT. Tình trạng này thường rõ hơn ở các đô thị lớn, nơi dân cư tập trung trong khi quỹ đất và khả năng di chuyển có giới hạn.
Biểu hiện thứ hai âm thầm hơn: trường nhận thêm học sinh nhưng chưa kịp bổ sung phòng học và giáo viên, khiến lớp học ngày càng đông. Đây mới là sức ép đi thẳng vào chất lượng dạy và học hằng ngày.
Trên cả nước, từ năm 2015 đến năm 2024, số học sinh bình quân mỗi lớp THPT tăng từ 37,83 lên 41,04, tương đương 8,5%. Số học sinh trên một giáo viên tăng mạnh hơn, từ 16,07 lên 21,04, tức 30,9%.
Hai chỉ báo này cho thấy áp lực không chỉ nằm ở việc thiếu trường, thiếu lớp, mà còn ở khả năng bảo đảm điều kiện dạy và học. Do đó, giải quyết tình trạng thiếu chỗ học không đơn thuần là tăng số lượng học sinh được tiếp nhận, mà phải mở rộng đồng thời năng lực trường lớp và đội ngũ giáo viên để không đánh đổi chất lượng giáo dục.
Đầu tư công không thể một mình chạy đua với mọi biến động
Những biến động trong hai mươi năm cho thấy sức ép tuyển sinh THPT không phải cú sốc bất ngờ, mà là kết quả của sự mất cân đối kéo dài giữa nhu cầu học tập và khả năng cung ứng của hệ thống.
Các phân tích trên dẫn tới hai kết luận chính. Thứ nhất, sức ép lên hệ thống THPT là có thật và ngày càng rõ. Từ khoảng năm 2015, sự tăng trưởng số trường THPT gần như đứng yên; thậm chí, nếu điều chỉnh theo tốc độ tăng dân số, năng lực cung ứng còn giảm đáng kể. Trong khi đó, số học sinh liên tục phục hồi và tăng lên. Phần lớn nhu cầu mới vì thế phải được "nén" vào mạng lưới hiện có, bằng cách tăng số lớp, mở rộng quy mô trường hoặc chấp nhận nhiều học sinh hơn trên mỗi lớp và mỗi giáo viên.
Thứ hai, số học sinh tăng không phải một cú sốc "từ trên trời rơi xuống". Đó là kết quả của những xu hướng có tính cơ cấu từ biến động dân số trong độ tuổi đi học đến làn sóng chuyển tiếp từ THCS lên THPT.
Đây đều là những xu hướng diễn ra tương đối chậm, có thể quan sát và dự báo trước ở từng địa phương. Điểm nghẽn nằm ở khả năng đáp ứng của phía cung: để xây một trường mới cần quỹ đất, vốn đầu tư, giáo viên và hàng loạt thủ tục. Trong khi nhu cầu có thể tăng nhanh theo từng năm học, việc mở rộng năng lực trường lớp thường cần nhiều năm.
Độ trễ ấy có thể lớn hơn trong bối cảnh chính sách ưu tiên tinh giản biên chế và sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị quyết 39-NQ/TW năm 2015, Nghị quyết 19-NQ/TW năm 2017 và Nghị quyết 08/NQ-CP năm 2018 đã tạo ra một khuôn khổ thận trọng hơn đối với việc tăng đầu mối, biên chế và chi thường xuyên [2]. Mặc dù không trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình xây trường mới, nhưng có thể khiến quyết định mở rộng mạng lưới trở nên chặt chẽ và mất nhiều thời gian hơn. Khi nhu cầu giáo dục chạy nhanh hơn chu kỳ quy hoạch và đầu tư công, chính độ trễ chính sách có thể góp phần làm mùa tuyển sinh thêm căng thẳng.
Một đề xuất quen thuộc khác là bỏ thi, đơn giản hóa thủ tục hoặc làm kỳ thi đầu vào dễ hơn. Nhưng xét tuyển có thể giúp học sinh giảm áp lực từ một kỳ thi cạnh tranh, nhưng không tự làm tăng số chỗ học trong trường công lập. Nếu năng lực cung ứng giữ nguyên, nới đầu vào chủ yếu làm lớp học đông hơn hoặc chuyển cuộc cạnh tranh sang học bạ và các hình thức xét tuyển khác. Áp lực có thể bớt lộ diện ở cổng trường thi, nhưng tình trạng thiếu chỗ và rủi ro chất lượng vẫn còn nguyên.
Câu hỏi chính sách vì vậy không chỉ là "có thi hay không", mà là tuyển chọn thế nào cho minh bạch, phù hợp với từng loại trường và không đẩy thêm chi phí sang học sinh, gia đình.
Dư địa từ hệ thống trường ngoài công lập
Vì vậy, chính sách không nên chỉ đặt cược vào việc mở rộng trường công, mà cần tạo điều kiện thực chất hơn cho các cơ sở ngoài công lập tham gia. Cạnh tranh có quản lý giữa nhiều chủ thể cung ứng giáo dục giúp các trường có động lực điều chỉnh nhanh hơn theo nhu cầu của người học [3]. Điều này không đồng nghĩa với tư nhân hóa giáo dục hay thu hẹp vai trò của Nhà nước. Trường công vẫn phải là trụ cột bảo đảm quyền tiếp cận, công bằng và các mục tiêu giáo dục quốc gia. Nhưng trường ngoài công lập có thể bổ sung chỗ học, mở thêm lựa chọn và giúp hệ thống phản ứng linh hoạt hơn khi nhu cầu thay đổi.
Có ít nhất ba lý do để mở rộng cánh cửa này.
Thứ nhất, trường ngoài công lập có thể giúp giảm sức ép quy mô lớp. Thực tế, số học sinh bình quân mỗi lớp ở khu vực này còn tương đối thấp, nghĩa là vẫn có dư địa tiếp nhận thêm học sinh mà không nhất thiết làm lớp học phình ra nhanh như tại nhiều trường công. Khu vực này khó thay thế các trường công lập uy tín, nhưng có thể trở thành một lựa chọn bổ sung đáng kể cho gia đình.
Dư địa mở rộng còn khá lớn. Đến năm 2024, số lớp ngoài công lập chiếm chưa tới 15% tổng số lớp THPT trên cả nước. Để so sánh: khu vực tư thục chiếm 31,1% tổng số trường THPT phổ thông tại Trung Quốc vào năm 2025 [4]; ở Singapore, tỷ lệ cơ sở do các chủ thể ngoài Nhà nước quản lý đạt khoảng 29,3% nếu tính cả nhóm trường được Chính phủ hỗ trợ kinh phí [5]. Các mô hình không hoàn toàn giống Việt Nam, nhưng cho thấy sự tham gia của nhiều chủ thể ở bậc trung học để giảm tải cho hệ thống giáo dục.
Nút thắt lớn nhất ở đây là học phí. Bởi vậy, mở rộng trường ngoài công lập phải đi cùng các công cụ giúp học sinh có khả năng tiếp cận: học bổng, hỗ trợ học phí theo hoàn cảnh kinh tế, Nhà nước đặt hàng dịch vụ giáo dục hoặc ưu đãi có điều kiện cho những trường tiếp nhận học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
Thứ hai, nhiều nguồn cung hơn có thể tạo ra nhiều con đường học tập hơn. Học sinh khác nhau về năng lực, sở thích, hoàn cảnh và định hướng nghề nghiệp; một hệ thống chỉ có ít mô hình trường khó đáp ứng tất cả cùng một công thức. Khi trường học, chương trình và phương thức tuyển sinh đa dạng hơn, mỗi học sinh có thêm cơ hội tìm được lựa chọn phù hợp.
Thứ ba, khi thị trường giáo dục phát triển đa dạng hơn, nhu cầu về các dịch vụ như tư vấn hướng nghiệp, dinh dưỡng học đường, công nghệ giáo dục, gia sư và hoạt động ngoại khóa cũng có thể gia tăng. Nếu được quản lý tốt và bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng, những dịch vụ này sẽ bổ trợ cho hoạt động dạy và học, giúp học sinh có thêm điều kiện phát triển kiến thức, kỹ năng và lựa chọn lộ trình học tập phù hợp. Nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy chất lượng giáo dục chịu ảnh hưởng không chỉ từ điều kiện kinh tế mà còn từ chất lượng thể chế, mức độ nghèo đói và các yếu tố hỗ trợ gián tiếp như dinh dưỡng, dịch vụ giáo dục [6].
Vì vậy, lời giải dài hạn không thể chỉ là xây thêm vài trường công hay đổi cách thi. Việc làm này có thể chỉ dịch chuyển vấn đề về chất lượng giáo dục từ sự hiện diện ngoài trường thi tới vào trong lớp học. Điều quan trọng hơn là tạo ra một hệ thống có khả năng tự điều chỉnh trước biến động dân số, nhu cầu và đặc điểm của người học. Đầu tư công có trọng điểm, mở rộng có điều kiện khu vực ngoài công lập, trao quyền tự chủ phù hợp và minh bạch thông tin cần được thực hiện cùng nhau. Khi đó, hệ thống mới có thể vừa giảm sức ép về số lượng, vừa tạo động lực nâng chất lượng THPT.
[1] Tài liệu ADB có thể truy cập tại Viet Nam Secondary Education Sector Assessment, Strategy, and Road Map.
[2] Theo đó, Nghị quyết 39-NQ/TW năm 2015 yêu cầu giữ ổn định tổ chức, chỉ thành lập tổ chức mới trong trường hợp thật sự cần thiết, không tăng tổng biên chế và giảm ít nhất 10% biên chế giai đoạn 2015–2021. Giáo dục vẫn được bổ sung biên chế khi mở trường, tăng lớp hoặc tăng học sinh nhưng phải quản lý chặt.
Năm 2017-2018, Nghị quyết 19-NQ/TW và Nghị quyết 08/NQ-CP nhấn mạnh việc giảm đầu mối đơn vị sự nghiệp công lập, sắp xếp mạng lưới trường, hình thành trường nhiều cấp, điều chỉnh quy mô lớp và thu gọn điểm trường.
[3] Lập luận này cũng phù hợp với sự khác biệt giữa các địa phương. Hà Nội, TP.HCM hoặc các tỉnh công nghiệp có thể chịu áp lực lớn từ nhập cư và tăng nhanh số học sinh, trong khi một số tỉnh khác phải đối mặt với dân số trong độ tuổi đi học giảm hoặc phân bố phân tán. Một chính sách đồng nhất trên toàn quốc khó xử lý đầy đủ những mất cân đối này. Việc cho phép nhiều chủ thể tham gia, kết hợp với quyền chủ động lớn hơn của địa phương, có thể giúp lấp đầy các khoảng trống cung-cầu cụ thể.
[4] 2025年全国教育事业发展统计公报. Ministry of Education of the People's Republic of China.
http://www.moe.gov.cn/jyb_sjzl/sjzl_fztjgb/202607/t20260706_1442870.html
[5] Number Of Schools By Level And Type, Annual. data.gov.sg. https://data.gov.sg/datasets/d_d8b56a22a5c4d3c6de405155da27601f/view
[6] Van Le, D., & Tran, T. Q. (2024). Economic growth and quality of education: Evidence from the national high school exam in Vietnam. International Journal of Educational Development, 104, 102947. https://doi.org/10.1016/j.ijedudev.2023.102947