Tuy nhiên, điều làm chúng tôi tôi băn khoăn nhất ở bản dự thảo này là nó chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết những vấn đề cốt tử của GDĐH hiện nay, đồng thời vẫn còn nhiều lỗi kỹ thuật đáng ra không thể có trong lần cuối cùng trình Quốc hội này.
Dưới đây là ý kiến của chúng tôi về các vấn đề đó:
1. Vấn đề quan hệ giữa quy mô và chất lượng GDĐH
Theo "Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo" của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XII thì từ năm 1998 đến năm 2009 đã có 312 trường ĐH, CĐ được thành lập, nghĩa là trung bình cứ 2 tuần lại có 1 trường ĐH, CĐ ra đời. Kết quả, tính đến tháng 9/2009, cả nước có 440 trường ĐH, CĐ, trong đó có 77 trường ngoài công lập. Tổng quy mô đào tạo ĐH, CĐ năm học 2008 – 2009 là 1.719.499 SV, tăng 13 lần so với năm 1987; tỷ lệ SV/số dân năm 1997 là 80 SV/1vạn dân thì đến năm 2009 là 195 SV/1 vạn dân, và năm 2010 có thể đạt 200 SV/1 vạn dân. "Trong khi quy mô đào tạo ở tất cả các bậc học và hệ đào tạo tăng nhanh thì các điều kiện cơ bản để bảo đảm chất lượng đào tạo không theo kịp [...] Vì vậy, chất lượng đào tạo đại trà của sinh viên ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, chưa tiếp cận được với trình độ tiên tiến trong khu vực và thế giới." , giải quyết tranh chấp về kết quả kiểm định chất lượng đào tạo, xử lý vi phạm pháp luật về kiểm định chất lượng đào tạo v.v...
Thiếu những quy định như trên, Luật GDĐH có ra đời cũng không thể tổ chức được các cơ sở kiểm định chất lượng và thực hiện được việc kiểm định chất lượng. Trong trường hợp dự thảo Luật trao toàn quyền cho cơ sở GDĐH quyết định chỉ tiêu tuyển sinh, hình thức tuyển sinh, tự chủ về chương trình đào tạo, tổ chức và quản lý đào tạo, in và cấp phát văn bằng thì việc thiếu những quy định về kiểm định chất lượng sẽ dẫn tới tình trạng sa sút nghiêm trọng về chất lượng GDĐH.
1.3. Giáo dục thường xuyên (đào tạo tại chức)
Dư luận nhiều năm nay rất phàn nàn về việc phát triển quy mô kèm theo sự tuỳ tiện trong tổ chức đào tạo và sự sa sút nghiêm trọng về chất lượng giáo dục thường xuyên. Đây là vấn đề nhất thiết phải giải quyết nếu muốn xây dựng một xã hội học tập lành mạnh, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước. Để tiến tới một xã hội học tập, trong đó người lao động có thể học bất kỳ một học phần nào để nâng cao hiểu biết và kỹ năng, phục vụ cho công việc của mình, không nên quan niệm cứng nhắc giáo dục thường xuyên phải tổ chức thành những lớp học riêng, học phải lấy bằng, mà cần quan niệm là tuỳ điều kiện thời gian của mình và khả năng tiếp nhận của cơ sở giáo dục, người học có thể theo học cùng sinh viên chính quy hoặc học lớp riêng. Nhưng để nâng cao chất lượng giáo dục thường xuyên, đảm bảo giáo dục thường xuyên có mặt bằng ngang với mặt bằng đào tạo chính quy, những người có nguyện vọng học lấy bằng hay tín chỉ cần thi học phần, thi tốt nghiệp chung với sinh viên chính quy. Tóm lại, theo chúng tôi, Luật GDĐH cần thể hiện quan niệm mới hơn về giáo dục thường xuyên và dành cho loại hình giáo dục này ít nhất một chương, trong đó có những quy định về chương trình, chỉ tiêu tuyển sinh, phương thức đào tạo, kiểm tra, cấp bằng,...
1.4. Văn bằng tốt nghiệp
Vấn đề này tuy thiên về hình thức nhưng cũng thể hiện quan điểm về phân công nhiệm vụ đào tạo nhân lực và tác động không nhỏ đến chương trình, phương thức đào tạo, tâm lý giảng viên, sinh viên, tâm lý xã hội, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Khác với quy định tại điều 43 Luật Giáo dục, dự thảo Luật GDĐH quy định toàn bộ văn bằng tốt nghiệp các ngành khác nhau đều là "văn bằng tốt nghiệp CĐ hoặc ĐH" (Điều 40), không còn các danh hiệu cử nhân, bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư. Hàm ý của quy định mới này là nhường việc bồi dưỡng, công nhận các danh hiệu ấy cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Nếu vậy thì quy định này chắc chắn ảnh hưởng đến chương trình, phương thức đào tạo sinh viên và sự gắn bó của cơ sở GDĐH với đơn vị sử dụng lao động. Có lẽ ở đây chúng ta cũng cần rút kinh nghiệm sâu sắc về tác động tiêu cực của việc gọi sinh viên là "học sinh ĐH" trong những năm 70 của thế kỷ trước. Chỉ bằng sự thay đổi tên gọi ấy, chúng ta đã góp phần làm cho sinh viên giảm sút ý thức về vị thế "người lớn" của mình và trường ĐH nhanh chóng trở thành "trường phổ thông cấp 4".
2. Vấn đề thị trường GDĐH
Từ khoảng 20 năm nay, cùng với sự ra đời của các cơ sở giáo dục ngoài công lập, cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài và các hình thức liên kết đào tạo với nước ngoài, đã dấy lên cuộc tranh luận về việc có hay không có, nên chấp nhận hay không chấp nhận thị trường giáo dục ở nước ta. Tới nay, với các quy định tại khoản 3 Điều 7 về "cơ sở GDĐH có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài", "cơ sở GDĐH liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài", dự thảo Luật GDĐH đã chính thức chấp nhận sự tồn tại của loại thị trường này.
Sự tồn tại thị trường giáo dục không phải là thảm hoạ. Tuy nhiên, luật pháp cần phân biệt rõ hai loại hình dịch vụ giáo dục - dịch vụ vì mục đích lợi nhuận và dịch vụ không vì mục đích lợi nhuận - để có chính sách phù hợp với mỗi loại hình.
Khoản 7 Điều 4 dự thảo Luật GDĐH giải thích: "Cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận nếu phần lợi nhuận tích lũy hằng năm là tài sản chung không chia, để tái đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học; các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hằng năm không vượt quá lãi suất huy động tiền gửi bình quân do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố."
Theo quy định tại Điều 16 thì trường tư thục thành lập hội đồng quản trị – tổ chức đại diện duy nhất cho quyền sở hữu của nhà trường. Hội đồng quản trị có nhiệm vụ "tổ chức thực hiện các nghị quyết của đại hội đồng cổ đông" – cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất về đường lối phát triển của nhà trường theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của trường ĐH tư thục