![]() |
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi mở rộng trách nhiệm pháp lý của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian với tất cả đối tượng sở hữu trí tuệ, bao gồm cả nhãn hiệu, không chỉ giới hạn ở bản quyền và quyền liên quan như trước đây. Ảnh: Hàng hóa xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu vẫn được bày bán tràn lan trên các sàn thương mại điện tử. |
Gỡ nút thắt trong xác lập và khai thác quyền sở hữu trí tuệ
Với tinh thần triển khai nhanh gọn, chỉ sau bốn tháng kể từ lúc bắt đầu, dự án sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ đã hoàn tất. Ngày 10/12, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Dù triển khai gấp rút, những nội dung sửa đổi lần này vẫn nhận được nhiều đánh giá tích cực: "Những sửa đổi trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2025 của Việt Nam đánh dấu một trong những cuộc cải cách quan trọng nhất về hệ thống sở hữu trí tuệ của đất nước trong những năm gần đây", các luật sư ở Tilleke & Gibbins, viết trên Lexology. "Thông qua hàng loạt quy định về đơn giản hóa các thủ tục hành chính, siết chặt thực thi quyền và làm rõ các nội dung liên quan đến môi trường số, những thay đổi này thể hiện rõ mục tiêu của Việt Nam trong việc bắt kịp các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời giải quyết các thách thức thực tiễn trong nước".
Một trong những nút thắt lớn nhất được gỡ bỏ trong Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi lần này là xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tồn đọng. Đây là vấn đề gây bức xúc từ nhiều năm nay. Thậm chí quá trình xử lý đơn kéo dài còn khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam phải chuyển sang đăng ký bảo hộ ở nước ngoài để tiết kiệm thời gian và không bị lỡ cơ hội kinh doanh.
Thực chất, tình trạng tồn đọng đơn đăng ký sở hữu trí tuệ không phải là câu chuyện của riêng Việt Nam. Ngay cả những cơ quan sở hữu trí tuệ ở các quốc gia phát triển như Văn phòng Sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) cũng từng phải đối mặt với tình trạng này do số lượng đơn tăng cao, thiếu hụt nhân lực, quy trình xử lý phức tạp và ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Nhưng khác với các nước phát triển giàu nguồn lực, việc đẩy nhanh tốc độ xử lý đơn là một bài toán khó với Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) trong bối cảnh lượng đơn ngày càng tăng và nguồn lực hạn chế như hiện nay.
Giải pháp khả thi nhất là tối ưu hóa quy trình xử lý đơn. Trong Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi mới được thông qua, hàng loạt thời hạn thủ tục xử lý đơn đã được rút ngắn: thời gian thẩm định nội dung đối với sáng chế từ 18 tháng giảm xuống còn 12 tháng; với nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý chỉ còn năm tháng. Các quyết định liên quan đến việc cấp, chấm dứt, hủy bỏ hoặc sửa đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu công nghiệp sẽ được công bố trong vòng 30 ngày kể từ ngày cấp, giảm một nửa so với thời hạn 60 ngày trước đây. Người nộp đơn cũng có thể yêu cầu thẩm định nhanh đối với đơn sáng chế và nhãn hiệu trong vòng ba tháng kể từ ngày công bố đơn.
Sau khi đăng ký bảo hộ thành công, làm thế nào để những tài sản trí tuệ này phát huy giá trị trong thực tế? Cũng giống như câu chuyện xử lý đơn tồn đọng, việc khai thác tài sản trí tuệ cũng là một điểm nghẽn lớn tồn tại lâu nay. Để giải quyết bài toán này, lần đầu tiên, Luật Sở hữu trí tuệ đã bổ sung các quy định về quản lý, khai thác và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ như một loại tài sản thực thụ. Theo đó, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện các hoạt động góp vốn, thế chấp, đầu tư, giao dịch thương mại...
Theo Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng, những quy định về "tài sản hóa" quyền sở hữu trí tuệ thể hiện tư tưởng chính của lần sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ mới nhất: Sở hữu trí tuệ phải biến kết quả nghiên cứu thành tài sản để có thể giao dịch; phải trở thành tài sản của doanh nghiệp, có thể định giá, mua bán, được hạch toán vào báo cáo tài chính và sử dụng làm tài sản bảo đảm để vay vốn, góp vốn, đặc biệt đối với tài sản công nghệ mới, công nghệ số, AI. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy chủ yếu là bảo vệ quyền sang tài sản hóa, thương mại hóa và thị trường hóa sở hữu trí tuệ, đồng bộ với các luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghệ số, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo.
Những bài toán trong bối cảnh mới
Bên cạnh những vướng mắc quen thuộc, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi còn tìm cách giải quyết những vấn đề mới phát sinh trong bối cảnh hiện nay. Nổi bật nhất là tình trạng xâm phạm quyền trên môi trường số. Trong những năm gần đây, Việt Nam liên tục xuất hiện trong danh sách những thị trường "khét tiếng" về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trên các nền tảng số. Trước tình trạng này, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi đã bổ sung quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian và đẩy mạnh áp dụng các biện pháp công nghệ để thực thi quyền trên môi trường số. Cụ thể, các bên vận hành nền tảng kỹ thuật số phải chủ động thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng, thay vì chỉ gỡ bỏ theo yêu cầu như trước đây.
Đây là một bước tiến hoàn toàn mới, "đánh dấu sự chuyển đổi từ mô hình gỡ bỏ mang tính phản ứng thụ động sang các nghĩa vụ tuân thủ sở hữu trí tuệ chủ động hơn", các luật sư ở Baker McKenzie, nhận xét trên Lexology. Nhiều chuyên gia cho rằng việc yêu cầu sự tham gia chủ động của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả thực thi quyền trên môi trường số. Bởi lẽ, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số thường diễn ra rất nhanh chóng, chẳng hạn một trận bóng đá chỉ diễn ra khoảng 90 phút, trong thời gian này, các chủ thể quyền khó có thể kịp thời phát hiện và tiến hành thủ tục yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ trung gian gỡ bỏ các kênh đăng tải trái phép trận đấu. Trách nhiệm pháp lý của các bên trung gian cũng được mở rộng với tất cả đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, không chỉ giới hạn trong quyền tác giả và quyền liên như tronglần sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệnăm 2022.
Vào những ngày cuối cùng trước khi thông qua Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, một nội dung mới được bổ sung nhằm giải quyết vấn đề được quan tâm nhất hiện nay: bảo hộ dữ liệu huấn luyện các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI). Theo đó, "tổ chức, cá nhân được phép sử dụng văn bản và dữ liệu đã được công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận, nhằm mục đích nghiên cứu, huấn luyện và phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo, với điều kiện không sao chép, phân phối, truyền đạt, công bố, làm tác phẩm phái sinh hoặc khai thác thương mại văn bản, dữ liệu gốc và không gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu theo quy định của Luật này và pháp luật khác có liên quan".
Quy định này làm dấy lên nhiều tranh cãi. Nhiều người cho rằng đây là một ngoại lệ mở quá rộng, nghiêng về phía các doanh nghiệp công nghệ và đe dọa quyền lợi của các nhà sáng tạo. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng vẫn có thể áp dụng linh hoạt quy định này để cân bằng quyền lợi giữa các bên. Ví dụ, với quy định hiện nay, vẫn có thể hiểu dữ liệu được công bố hợp pháp ở đây không phải là mọi dữ liệu công khai mà các công ty AI có thể tiếp cận. Thông thường, một tác phẩm chỉ được coi là công bố khi được phát hành với sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan để phổ biến đến công chúng bản sao dưới bất kỳ hình thức nào với số lượng hợp lý. Theo Nghị định 17/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan, các hình thức "biểu diễn tác phẩm sân khấu, âm nhạc; trình chiếu tác phẩm điện ảnh; đọc trước công chúng tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm mỹ thuật; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc" chưa được coi là công bố tác phẩm. Như vậy, phạm vi các tác phẩm được phép tiếp cận để huấn luyện mô hình AI đã bị thu hẹp đáng kể.
Ngoài ra, khái niệm "công chúng được phép tiếp cận" cũng có thể không rộng như mọi người vẫn nghĩ. Các tác phẩm mà công chúng được phép tiếp cận thường được hiểu là các tác phẩm thuộc miền công cộng (hết thời hạn bảo hộ hoặc truy cập mở), hoặc truy cập công khai (publicly accessible), công chúng có thể đọc được nhưng không được khai thác sử dụng theo cách khác nếu không xin phép sử dụng từ chủ sở hữu. Như vậy, rất có thể, doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải xin phép chủ sở hữu quyền nếu muốn sử dụng dữ liệu để huấn luyện mô hình AI.
Trong lúc chờ đợi những hướng dẫn cụ thể hơn, một số chuyên gia cho rằng nên bổ sung cơ chế bồi hoàn tập thể thông qua việc thu phí từ mô hình AI thương mại và phân bổ lại cho cộng đồng sáng tạo. Bởi lẽ, Việt Nam vẫn đang thiếu các tổ chức đại diện tập thể đủ năng lực để thương lượng và quản lý dữ liệu ở quy mô lớn. "Chúng ta cũng cũng chưa có hạ tầng kỹ thuật để truy vết, đo lường hay định lượng mức độ sử dụng tác phẩm trong quá trình huấn luyện, một hoạt động vốn mang tính hộp đen. Khi chưa có cơ chế định giá và biểu giá thống nhất, việc cấp phép đòi hỏi sự tham gia của các chuyên gia, làm tăng chi phí giao dịch. Quan trọng hơn, ngay cả khi đã cấp phép, tác giả và chủ sở hữu quyền vẫn không thể kiểm soát hoặc đánh giá tác động của việc mô phỏng phong cách và khai thác giá trị từ tác phẩm của họ. Do đó, chỉ dựa vào cơ chế cấp phép (licensing) trong luật sở hữu trí tuệ có lẽ không khả thi", ThS. Nguyễn Ngọc Phương Hồng, giảng viên trường ĐH Kinh tế - Luật (ĐHGQ TP.HCM), nhận xét. "Việc bổ sung cơ chế bồi hoàn tập thể thông qua thu phí từ mô hình AI thương mại và phân bổ cho cộng đồng sáng tạo, cũng như yêu cầu các mô hình minh bạch nguồn dữ liệu, lịch sử thu thập dữ liệu... không chỉ khả thi mà còn giúp hướng dẫn các mô hình AI hoạt động hiệu quả, tuân thủ tại Việt Nam".
Bài đăng KH&PT số 1375+1376 (số 51+52)
Thanh An
