![]() |
Thomas Piketty (1971) là nhà kinh tế học nổi tiếng người Pháp chuyên nghiên cứu về tài sản và bất bình đẳng. Nhiều công trình khảo cứu của ông được công chúng toàn cầu biết đến rộng rãi mà nổi bật nhất là tác phẩm Le Capital Au XXIE Siécle (Tư bản thế kỷ 21). Nguồn: parisschoolofeconomics.eu
Bất công có lẽ vẫn là cụm từ thường xuyên được nhắc đến gần như ở khắp mọi nơi trong những năm đầu 2020. Điều này xuất phát từ lẽ dễ hiểu, bình quân tài sản của nhóm người nghèo nhất thế giới ít hơn 50 lần so với bình quân tài sản của nhóm giàu nhất, theo kết quả nghiên cứu trích từ Lược sử về bình đẳng (Une bréve histoire de I’ égalité).
Hiện thực phũ phàng đó có lẽ khác rất xa kỳ vọng của những người từng tham gia cuộc cách mạng tư sản Pháp vĩ đại 1788-1799. Bất chấp sự thật không như mơ, trong tác phẩm của mình, T. Piketty đã chỉ ra rằng thế giới ngày nay vẫn tốt đẹp hơn trên tất cả mọi phương diện so với quá khứ cách đó ba thế kỷ, đặc biệt là về phương diện bình đẳng, nhờ những phong trào nổi dậy, cách mạng, và các cuộc đấu tranh xã hội.
Mỗi cuộc cách mạng thành công đã viết thêm một dòng trên tuyên ngôn bình đẳng. Di sản lớn nhất của cuộc cách mạng Pháp không phải là sự cáo chung của giới quý tộc mà, theo T. Piketty, là quyền bình đẳng trước pháp luật cho tất cả những người sở hữu tài sản. Tương tự, thắng lợi của miền Bắc trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ không chỉ chấm dứt hoàn toàn chế độ nô lệ ở quốc gia này, nhưng quan trọng hơn là trao quyền tự do cho người da đen. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tại các nước châu Á, châu Phi và Mĩ Latin vừa kết thúc sự bóc lột của chủ nghĩa thực dân xuyên quốc gia vừa tạo ra nền độc lập lâu dài cho nhân dân tại những quốc gia thuộc địa. Tuy nhiên cho đến nay, tất cả những chiến thắng này chưa thực sự trọn vẹn và bền vững vì sự bất công bằng cách này hay cách khác lại tiếp tục len lỏi trở lại trong đời sống nhân loại.
Trải qua 10 chương sách, T. Piketty đã đưa người đọc đến những hình thức bất công phổ biến được giới cầm quyền sử dụng để cưỡng chế người thấp cổ, bé họng. Đó là hành vi xâm lược của thực dân Anh, Pháp nhân danh cái mà họ gọi là chủ nghĩa bảo hộ để cướp phá tài sản, xuất khẩu thuốc phiện nhằm đầu độc các dân tộc từng là đối tác thương mại của họ trong nhiều thế kỷ. Đó là sự vô lý khi đế quốc Pháp yêu cầu Haiti bồi thường cho các chủ nô vì cuộc nổi dậy thắng lợi của nô lệ... đã làm tan biến tài sản của giới này (?) (!). Ngay cả khi bãi bỏ chế độ nô lệ, chính quyền Anh và Pháp vẫn phát triển những hệ thống mới cho phép họ sử dụng lao động cưỡng bức từ các quốc gia thuộc địa dưới vỏ bọc hợp pháp là "lao động hợp đồng", "cam kết". Nhiều quốc gia đã tiến rất xa về nền dân chủ như Thụy Điển có lẽ sẽ muốn quên đi quá khứ đen tối - thời điểm mà quyền bầu cử ở nước này được quy định dựa trên thu nhập, số tài sản và số tiền thuế đã nộp của một người.
Ở chiều ngược lại, có rất nhiều mô hình giảm thiểu bất bình đẳng đã ra đời và chứng minh được tính hợp lý của nó ngay trong lòng những quốc gia tư bản hùng mạnh nhất.Mitbestimmung(đồng quản lý) của nước Đức là một mô hình tiêu biểu khi cho phép phân chia các ghế trong hội đồng quản trị, ban giám sát của công ty với một nửa là đại diện của nhân viên và phần còn lại của các cổ đông. T. Piketty cũng đánh giá rất cao sự hình thành của mô hình nhà nước phúc lợi đi cùng mức tăng chi tiêu thường xuyên cho các lĩnh vực y tế, giáo dục và an sinh. Nhưng những trang tâm đắc nhất của ông trongLược sử về bình đẳngthuộc về công cụ thuế lũy tiến - thứ mà ông cho rằng giúp giảm bất bình đẳng về thu nhập và đặc biệt là bất bình đẳng tài sản.
Dù vậy, sau giai đoạn phát triển bùng nổ của mô hình nhà nước phúc lợi và công cụ thuế lũy tiến, đã xuất hiện những thách thức mới chính là tự do lưu thông tư bản và dân tộc chủ nghĩa. Dưới danh nghĩa tự do hóa thương mại kết hợp bảo hộ mậu dịch, một mặt, giới tư bản của các nước giàu cố tìm cách chuyển dịch đầu tư đến các nước mà họ coi là "thiên đường thuế". Mặt khác, họ lại nhân danh bảo vệ quyền lợi của người dân trong nước hoặc một liên minh kinh tế để ra hàng loạt chính sách bất bình đẳng với hàng hóa, người lao động nhập cư, du học sinh...
Là một nhà nghiên cứu mang tinh thần cởi mở, T. Piketty đã vượt qua những rào cản về ý thức hệ để phân tích Marx, mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và đặc biệt là chủ nghĩa xã hội Trung Quốc. Dẫu rằng, cũng như một số nhà khoa học phương Tây, T. Piketty vội vàng đưa ra kết luận chủ quan về "những điểm yếu" của Trung Quốc như "giám sát khắc nghiệt", "phó thác đất nước cho một người tiên phong", "không thể nào thuyết phục được công luận". Thế nhưng, T. Piketty vẫn vô cùng ấn tượng vì đây là quốc gia thực hiện thành công công nghiệp hóa mà không cần đến chế độ nô lệ hay chủ nghĩa thực dân. Mô hình kinh tế hỗn hợp, nơi nhà nước nắm 55-60% tổng số vốn của các công ty trong cả nước, giúp Trung Quốc thoát khỏi cái bẫy nợ công đang đe dọa hầu hết các nước tư bản; đồng thời giúp quốc gia này đầu tư có hiệu quả vào cơ sở hạ tầng và các dạng năng lượng mới.
![]() |
Tác phẩm Une bréve histoire de I’ égalité (Lược sử về bình đẳng) được xuất bản lần đầu vào năm 2021 và gần đây đã được dịch sang tiếng Việt. Ảnh: Mai Phương |
Trong chương cuối của Lược sử về bình đẳng, T. Piketty tập trung làm rõ những giải pháp mà ông cho là "giúp thúc đẩy sự thay đổi trong những thập niên tới". Ông vẽ ra viễn cảnh về một hình thái chủ nghĩa chủ quyền phổ quát với những tiêu chí rõ ràng về công bằng xã hội, ngân sách và môi trường.
Trong bối cảnh tất cả các quốc gia, đặc biệt là những siêu cường, luôn sử dụng con số để minh họa cho sự văn minh, nhân bản của mình, T. Piketty lưu ý rằng phía sau các thống kê ấn tượng vẫn còn rất nhiều vấn đề bất bình đẳng chưa được làm sáng tỏ. Trong tác phẩm của mình, ông nhiều lần thẳng thắn phê phán những dữ liệu ấy "không thể hiện sự thật hay tính chắc chắn của sự thật", đặc biệt là "nỗi ám ảnh về GDP".Do đó, theo ông, việc xây dựng những chỉ số đa chiều như HDI (Chỉ số phát triển Con người), GPI (Chỉ số tiến bộ toàn cầu) có ý nghĩa vô cùng quan trọng để giúp nhân loại định hình mục tiêu của cuộc đấu tranh bình đẳng. Việc này có lẽ nằm trong tầm tay của các chính phủ, liên minh kinh tế, tổ chức quốc tế và các kinh tế gia hàng đầu nhưng vì sao đến nay chúng ta vẫn sử dụng những chỉ số truyền thống để mô tả viễn cảnh thịnh vượng và ẩn giấu bất bình đẳng? "Beg the question" có lẽ là câu trả lời mà T. Piketty sẽ dành cho độc giả nào còn thắc mắc những câu hỏi như vậy khi đã đọc hết toàn bộ cuốn sách.
So với các tác phẩm trước của T. Piketty, Lược sử về bình đẳng là một cuốn sách khiêm tốn về dung lượng theo chủ đích của tác giả. Ông muốn tác phẩm của mình phải ngắn gọn, thú vị, dễ hiểu để độc giả có thể chia sẻ với bạn bè, gia đình - điều bất khả với những pho lịch sử kinh tế như Thu nhập cao nhất thế kỷ 20, Tư bản thế kỷ 21 hay Tư bản và hệ tư tưởng. Nhưng chính điều này đã biến cuốn sách của T. Piketty thành một "bản báo cáo phân tích số liệu" dẫn đến hệ quả tất yếu là người đọc sẽ phải cưỡi ngựa xem hoa trong một số chủ đề nhất định (41 chủ đề trong hơn 250 trang sách). Mặc dù vậy, là cuốn sách được hoàn thành trên Cơ sở Dữ liệu Bất bình đẳng Thế giới (WID), chỉ riêng phần tài liệu của Lược sử về bình đẳng đã đủ thuyết phục người đọc phải sở hữu nó bên cạnh những tác phẩm nghiên cứu kinh tế nổi bật khác được xuất bản trong những năm gần đây.
Theo "đôi lời thú nhận" của T. Piketty ở những trang đầu cuốn sách, Lược sử về bình đẳng có lẽ mới chỉ là công trình khởi đầu cho một quá trình nghiên cứu chuyên sâu và lâu dài của ông về bình đẳng - một quyền tự nhiên của con người hiển hiện rõ ràng trong hiến pháp, bản tuyên ngôn của nhiều quốc gia nhưng luôn phải đối mặt với nguy cơ bị xâm phạm.
Bài đăng KH&PT số 1345 (số 21/2025)
Hải Triều

