"Bầu khí quyển không quan tâm carbon đến từ đâu," GS José Scheinkman, nhà kinh tế học tại Đại học Columbia, nói trong một cuộc hội thảo về biến đổi khí hậu tại Hà Nội hồi cuối tháng 7. "Nó chỉ quan tâm tổng lượng phát thải là bao nhiêu. Với khí quyển, một tấn khí thải ở Việt Nam và một tấn khí thải ở châu Âu là hoàn toàn như nhau."
Nhận xét tưởng như hiển nhiên ấy dẫn tới một câu hỏi khó về kinh tế. Nếu tác động khí hậu của một tấn CO₂ gần như không phụ thuộc vào nơi nó được phát ra, tại sao giá của quyền phát thải carbon trên các thị trường lại chênh nhau đến vậy?
Một tấn CO₂ phát ra ở Hà Nội hay Rotterdam tác động gần như nhau đến khí hậu, nhưng mỗi hạn ngạch lại được định giá chênh nhau gần 20 lần. Thiết kế: Ngô Hà
Trên thị trường có hai loại "hàng hóa" phổ biến được gọi chung là "carbon". Hạn ngạch phát thải là quyền được thải ra một tấn CO₂, do nhà nước cấp trong một thị trường có trần phát thải. Tín chỉ carbon lại đại diện cho một tấn CO₂ đã được giảm bớt hoặc hấp thụ so với một kịch bản tham chiếu, chẳng hạn từ một dự án trồng rừng hay năng lượng tái tạo.
Trong tháng 7/2026, giá một hạn ngạch phát thải trên hệ thống EU ETS của châu Âu dao động quanh 80 euro, có phiên chạm 82 euro. Tại Việt Nam, phiên giao dịch đầu tiên trên sàn carbon trong nước ngày 29/6 ghi nhận giá hạn ngạch từ 130.000 đến 136.000 đồng, tức khoảng 5 USD.
Nhìn sơ qua, quyền phát thải carbon ở Việt Nam có vẻ rẻ hơn gần 20 lần so với ở châu Âu. Nhưng thực tế khoảng cách ấy không có nghĩa chi phí giảm một tấn CO₂ ở Việt Nam thấp hơn châu Âu 20 lần. Ở đây có hai yếu tố quyết định, gồm chi phí thực để cắt giảm phát thải và mức độ khan hiếm mà mỗi thị trường tạo ra cho quyền phát thải.
Chi phí giảm phát thải khác nhau giữa các nước
Khoản tiền phải bỏ ra để tránh thải thêm một tấn CO₂ được các nhà kinh tế gọi là chi phí giảm phát thải cận biên (marginal abatement cost). Chi phí này khác nhau giữa các nhà máy, ngành và quốc gia, tùy vào công nghệ đang có, giá năng lượng và phần dư địa giảm phát thải với chi phí thấp mà họ vẫn còn có thể thực hiện.
Một nhà máy sử dụng thiết bị cũ có thể giảm đáng kể tiêu thụ năng lượng bằng các biện pháp tăng hiệu suất năng lượng, ví dụ như bảo dưỡng thiết bị, cách nhiệt đường ống hơi, điều chỉnh động cơ, tối ưu lịch vận hành, thu hồi nhiệt thải. Còn với một cơ sở đã hiện đại hóa gần hết các công đoạn, mỗi tấn CO₂ tiếp theo có thể đòi hỏi những thay đổi công nghệ tốn kém hơn, bao gồm lắp hệ thống thu giữ CO₂ hoặc thay thế dây chuyền sản xuất.
Một nghiên cứu công bố trên Nature Climate Change năm 2016, sử dụng bốn mô hình đánh giá tổng hợp, cho thấy chi phí giảm phát thải cận biên giữa các nền kinh tế có thể chênh nhau tới hai bậc độ lớn, tức khoảng 100 lần.
GS. José Scheinkman tại hội thảo khí hậu diễn ra ở Hà Nội từ ngày 31/7-2/8/2026. Ảnh: Trường Đặng
Loạt nghiên cứu của GS Scheinkman và các cộng sự về rừng Amazon (Brazil) cho thấy sự chênh lệch này có ý nghĩa thế nào đối với việc phân bổ nguồn lực khí hậu. Hình dung một chủ trại bò trên vùng đồng cỏ Amazon năng suất thấp, chi phí cơ hội của việc giữ rừng thay vì chuyển sang chăn nuôi có thể rất thấp ở một số khu vực, chỉ vài USD cho mỗi tấn CO₂ tương đương. Ngược lại, trong kịch bản có cơ chế chi trả khoảng 25 USD cho mỗi tấn CO₂ được giữ lại thông qua tín chỉ carbon, bảo tồn rừng trở nên có lợi hơn về mặt kinh tế so với việc chuyển đổi đất sang chăn nuôi.
Nói cách khác, nếu không có khoản tiền hỗ trợ, người chủ đất sẽ thấy việc phá rừng nuôi bò "có lời hơn" vì thu nhập từ chăn nuôi cao hơn giá trị của việc giữ lại lượng carbon trong rừng. Nhưng khi có cơ chế trả tiền cho việc giữ rừng, khoản thu này bù đắp được phần chênh lệch đó, khiến việc bảo tồn rừng không chỉ tốt cho môi trường mà còn trở thành lựa chọn có lợi về mặt kinh tế.
Khi mở rộng mô hình ra toàn vùng Amazon của Brazil, các tác giả ước tính nếu không có khoản chi trả, khu vực này có thể phát thải khoảng 17 tỷ tấn CO₂ trong ba mươi năm. Trong kịch bản trả 25 USD mỗi tấn, Amazon có thể chuyển sang hấp thụ khoảng 18 tỷ tấn carbon.
Điều đáng chú ý nằm ở nguyên tắc phía sau. Nếu cùng một khoản ngân sách, ưu tiên đầu tư vào những nơi có chi phí giảm phát thải thấp sẽ giúp cắt giảm nhiều CO₂ hơn, thì ta nên đưa vốn tới đó để đạt hiệu quả giảm phát thải cao nhất.
Đây cũng là logic kinh tế của thị trường mua bán hạn ngạch. Doanh nghiệp có thể giảm phát thải với chi phí thấp sẽ có động lực cắt giảm nhiều hơn mức bắt buộc rồi bán phần hạn ngạch dư thừa. Doanh nghiệp có chi phí cắt giảm cao hơn có thể lựa chọn mua hạn ngạch.
Nhưng chi phí giảm phát thải không tự động quyết định giá của hạn ngạch.
Giá hạn ngạch và độ khan hiếm
Trong một hệ thống mua bán phát thải, nhà nước quyết định tổng lượng phát thải được phép thông qua trần phát thải và số hạn ngạch được đưa ra thị trường. Vì vậy, cùng một quyền phát thải một tấn CO₂ có thể mang những mức giá rất khác nếu mức độ khan hiếm khác nhau.
Lịch sử phát triển EU ETS cho thấy điều đó. Trong giai đoạn thí điểm 2005-2007, châu Âu phân bổ nhiều hạn ngạch hơn lượng phát thải thực tế. Do phần dư không được chuyển sang giai đoạn tiếp theo, giá hạn ngạch đã rơi về gần 0 euro vào năm 2007. Khi EU dần siết trần phát thải và đưa vào Cơ chế Dự trữ Ổn định Thị trường (MSR) để xử lý lượng dư thừa, hạn ngạch trở nên khan hiếm hơn và giá tăng lên.
Sau gần hai tháng vận hành, tính đến giữa tháng 8, sàn carbon Việt Nam mới ghi nhận lượng giao dịch của phiên đầu tiên ngày 29/6, khoảng 1.210 tấn CO₂ tương đương, với tổng giá trị 161,66 triệu đồng. Con số này chỉ tương đương khoảng 0,00024% trong hơn 511 triệu tấn hạn ngạch VN2025 được phân bổ cho giai đoạn 2025 và 2026. Không có giao dịch mới phát sinh từ sau ngày khai trương sàn, có lẽ vì lượng phân bổ hạn ngạch của nhà nước cho các doanh nghiệp khá dồi dào.
Vì vậy, một hạn ngạch EU ETS và một hạn ngạch VN2025 của Việt Nam chưa phải hai món hàng có thể đem giá ra so trực tiếp. Mức giá khoảng 5 USD trong phiên đầu tiên tại Việt Nam chưa cho biết chi phí thực để giảm một tấn CO₂ trong nền kinh tế. Nó chủ yếu phản ánh trạng thái ban đầu của một thị trường mới hình thành: trong giai đoạn thí điểm, hạn ngạch được phân bổ miễn phí, nguồn cung còn lớn, số chủ thể tham gia hạn chế và thanh khoản rất thấp (có rất ít giao dịch).
Việt Nam thực sự còn nhiều cơ hội giảm phát thải có chi phí tương đối thấp. Sản xuất điện vẫn dựa nhiều vào than, công nghiệp còn nhiều nhà máy cũ tiêu tốn năng lượng, và những giải pháp nâng hiệu suất hay chuyển đổi nhiên liệu ít tốn kém vẫn chưa được tận dụng hết.
Chính vì thế, bất kỳ hoạt động nâng cao hiệu suất tại các cơ sở sử dụng công nghệ cũ, giảm lãng phí năng lượng hay thay đổi nhiên liệu đều là các giải pháp giảm carbon rẻ chưa được khai thác hết.
Tuy nhiên, chính những cơ hội đó cũng dẫn tới một câu hỏi khác quan trọng hơn. Tại sao chúng ta không bán những khoản giảm phát thải giá rẻ ấy cho nơi sẵn sàng trả giá cao hơn?
Cái giá của tương lai
Về mặt kinh tế học, ý tưởng này rất hấp dẫn. Bởi mỗi tấn CO₂ giảm thải đều có lợi cho khí hậu chung. Và cùng 100 triệu USD được rót vào một nước đang phát triển có thể cắt giảm được nhiều carbon hơn so với ở một nước giàu, thì mua bán carbon giữa các nước sẽ giúp số tiền dành cho khí hậu phát huy tác dụng hơn.
Nhưng khi chuyển từ bài toán toàn cầu sang lợi ích của từng nước, mọi chuyện phức tạp hơn. Việt Nam có mục tiêu giảm phát thải của riêng mình, và theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris, phần giảm phát thải đã bán cho nước khác sẽ không còn được tính vào mục tiêu của chính nước bán.
Bán những khoản giảm phát thải rẻ nhất hôm nay cũng đồng nghĩa thu hẹp dư địa cho ngày mai. Khi các mục tiêu khí hậu ngày càng chặt, Việt Nam có thể phải tìm đến những biện pháp đắt đỏ hơn để hoàn thành phần nghĩa vụ còn lại. Vì vậy, giá một giao dịch carbon không thể chỉ tính bằng chi phí giảm một tấn CO₂ hay số tiền thu được khi bán nó, mà còn phải tính đến chi phí cơ hội của phần giảm phát thải đã chuyển đi.
Một triệu hạn ngạch carbon có thể bán với giá 5 USD hôm nay có thể trở thành phần thiếu hụt của Việt Nam trong mục tiêu giảm phát thải 10 năm tới. Việt Nam sẽ phải tìm mua một triệu tấn khác để thay thế, và những tấn tiếp theo có thể đắt hơn.
Vì vậy, khoảng cách giá giữa hạn ngạch 5 USD ở Việt Nam và 80 euro ở châu Âu hiện nay đặt ra một câu hỏi thiết thực là phần giảm phát thải nào nên bán và phần nào nên giữ lại để đầu tư cho tương lai.
Assunção, Hansen, Munson, Scheinkman, (2025). Carbon Prices, Forest Conservation and Reforestation in the Brazilian Amazon. Becker Friedman Institute for Economics (BFI), ĐH Chicago. https://bfi.uchicago.edu/wp-content/uploads/2023/06/BFI_WP_2023-86-3.pdf
Aldy, J., Pizer, W., Tavoni, M. et al. (2016). Economic tools to promote transparency and comparability in the Paris Agreement. Nature Climate Change 6, 1000–1004 (2016). https://doi.org/10.1038/nclimate3106
World Bank (2023). Corresponding Adjustment and Pricing of Mitigation Outcomes. https://doi.org/10.1596/42414
World Bank (2021). Managing the Risk of Corresponding Adjustment. https://www.worldbank.org/en/news/feature/2021/07/14/managing-the-risk-of-corresponding-adjustment