
Mỗi quả bí, cân gạo hữu cơ cần rất nhiều minh chứng
"Muốn bước ra thị trường, niềm tin bắt buộc phải đi kèm với bằng chứng", khi được hỏi về công việc của hợp tác xã Yến Dương, điều đầu tiên chị Ma Thị Ninh kể không phải là những đặc sản nếp Tài hay bí thơm Ba Bể mà lại là quá trình minh chứng quy trình canh tác.
Bởi, làm ra một cân lúa nếp nương, quả bí bản địa giống thuần chủng theo tiêu chuẩn hữu cơ đã khó nhưng chứng minh được đã làm đúng lại còn dích dắc hơn.
Ban đầu, nhìn bằng con mắt của những người từng học tại Đại học Nông lâm Thái Nguyên như chị, việc đó không có gì quá khó trên diện tích canh tác vỏn vẹn vài hecta. Nhưng khi từng công đoạn làm đất, nước, giống, phân bón, phòng trừ sâu bệnh cho từng loại cây cho đến thu hoạch... mỗi ngày đều phải theo quy trình, các chị mới nhận ra những ghi chép bé mọn đó lại rất khổng lồ. Mỗi công đoạn đều phải "kiểm tra và chứng minh được".

"Cái khó khăn nhất chính là thay đổi nhận thức về quy trình canh tác và ghi chép của bà con", chị Ninh nhớ lại.
Trước đó, các chị em dân tộc Dao, Tày chăm bón, ghi nhật ký bằng tay ngoài đồng, rồi chuyển cho chủ nhiệm hợp tác xã nhập lại. Đồng thời, phải chụp ảnh, cân đo đong đếm, làm bằng chứng "từng lần bón tưới, xịt thuốc". Nhưng đi lên nương cao, ra ngoài ruộng, khi trưa nắng, lúc tối muộn... "có lúc nhớ thì ghi, có lúc bận quá lại quên", chị cười trừ.
Đến khi nhớ ra, việc đã qua thì không đảm bảo phản ánh đúng quy trình sản xuất nữa. "Dữ liệu trễ và gián tiếp như vậy rất khó kiểm soát việc tuân thủ", chị Ninh kể.
Cũng giống như cả chục nghìn hợp tác xã trung du miền núi phía Bắc, Yến Dương không có những cánh đồng thẳng cánh cò bay mà phải quản từng mảnh ruộng con con thậm chí chỉ vài trăm mét rời rạc và phân tán theo địa hình đồi núi cheo leo ở Ba Bể, Bắc Kạn (nay thuộc tỉnh Thái Nguyên), nên việc thống nhất cách thu thập dữ liệu càng khó. Các hợp tác xã "đau đầu" với việc lấy đâu ra nhân lực để mà theo "kè kè" từng người đi ruộng, lên nương, đảm bảo sản xuất "đúng quy trình" hay chưa.
Những việc quá tỉ mẩn, thủ tục đăng ký chứng nhận kéo dài (1-3 năm) và yêu cầu giám sát nghiêm ngặt khiến nhiều người tặc lưỡi "hay là ... thôi bỏ quy trình", chỉ đơn giản là chọn "hữu cơ theo cách của mình", nghĩa là làm theo hướng tự nhiên, không hóa chất, nhưng không cần đăng ký chứng nhận nữa, tự mình bán nhỏ lẻ.
Với nông hộ nhỏ sản xuất manh mún lâu nay, tiêu chuẩn càng cao, càng nhiều thủ tục phức tạp thì khoảng cách giữa việc hiểu phải làm gì và thực sự duy trì tất cả yêu cầu ấy trong suốt vụ sản xuất càng giãn rộng.
Nhưng chị Ninh không muốn Yến Dương từ bỏ con đường sản xuất đạt chuẩn, vì một tấm chứng nhận PGS (chứng nhận đảm bảo các hộ liên kết đã cùng tham gia sản xuất theo đúng quy trình của sản xuất hữu cơ), JAS (Tiêu chuẩn Nông nghiệp Nhật Bản) hay GlobalGAP (Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu) có thể nâng giá trị sản phẩm lên vài lần.
Không lấy đâu ra người đi nhắc từng hộ ghi chép, nhưng điểm may là giờ đây ai cũng có chiếc điện thoại thông minh, chị Ninh quyết định giảm gánh nặng sổ sách bằng chuyển đổi số. Liệu công nghệ có thực sự giúp các chị em bớt gánh nặng?
San sẻ gánh nặng giám sát tuân thủ cho nông hộ nhỏ
Giữa năm 2025, họ được một nhóm nghiên cứu của Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia (STAMEQ) lựa chọn để dùng thử V-Standard, nền tảng đồng thời quản lý tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc do STAMEQ và Đại học Griffith (Australia) phát triển.

Nền tảng đưa toàn bộ tiến trình sản xuất của hợp tác xã lên một hệ thống số duy nhất, từ nhật ký canh tác, quản lý mùa vụ, trang trại đến các yêu cầu của từng bộ tiêu chuẩn. Hằng ngày, khi các xã viên nhập thông tin vào ứng dụng đến đâu, hệ thống sẽ tự đối chiếu với các tiêu chí đến đó.
Nếu một bước chưa được ghi nhận hoặc có dấu hiệu không phù hợp, AI cảnh báo để xã viên bổ sung hoặc điều chỉnh, thay vì đến cuối vụ hoặc chủ nhiệm hợp tác xã kiểm tra cả trăm người để phát hiện hồ sơ còn thiếu.
Mỗi loại sản phẩm được cấp một mã QR riêng để dán lên bao bì sản phẩm. Chỉ cần dùng điện thoại quét mã, người tiêu dùng có thể xem sản phẩm được trồng của hộ gia đình nào và ở khu vực/địa điểm nào trên bản đồ số.
Sau khi thông tin được công khai, đơn vị chứng nhận tiêu chuẩn cho nông sản có thể truy cập nền tảng để kiểm tra bộ hồ sơ điện tử, cùng các bằng chứng được ghi nhận trong quá trình canh tác. Nếu hồ sơ đáp ứng yêu cầu, hợp tác xã sẽ được cấp giấy chứng nhận tiêu chuẩn.

"Người nông dân không nhất thiết phải hiểu rõ quy trình của các tiêu chuẩn. Chúng rất rắc rối và phức tạp. Cái quan trọng nhất là họ có được một danh sách những việc cần làm và những hồ sơ cần phải nộp để được chứng nhận", TS. Nguyễn Thành Tâm, Đại học Griffith, người phụ trách thiết kế V-Standard, nói.
Theo ông Tâm, điểm quan trọng hơn của những ứng dụng như V-Standard là có thể đưa toàn bộ chuỗi công nghệ phục vụ truy xuất nguồn gốc và chứng nhận xuống đến từng nông hộ nhỏ, với chi phí tối thiểu. Các hợp tác xã vùng dân tộc thiểu số luôn có đặc sản thơm ngon, thậm chí phù hợp với các phân khúc khách hàng cao cấp nhưng ít có khả năng truy xuất hoặc đăng ký chứng nhận. Khả năng truy xuất trước giờ vẫn thường là lợi thế của các doanh nghiệp lớn và tập đoàn nông nghiệp.
Công nghệ không chỉ giúp nông dân bớt ghi chép mà còn làm giảm một phần khoảng cách về năng lực giữa nông hộ nhỏ lẻ và các doanh nghiệp có nguồn lực lớn để xây dựng hệ thống truy xuất, quản lý tiêu chuẩn và chứng minh chất lượng sản phẩm.

Hợp tác xã Yến Dương có hơn 20 thành viên chính thức, giờ đây mở rộng được 300 thành viên liên kết, canh tác trên hơn 50 ha ở các địa điểm khác nhau. Trong số đó, không phải ai cũng sẵn sàng tuân thủ quy trình hay kiên nhẫn đi theo đường dài. Đã có những hộ sản xuất làm sai hay bán sản phẩm riêng ngoài hệ thống của hợp tác xã, cũng có những người không tuân thủ tiêu chuẩn nhưng vẫn muốn hưởng lợi từ thương hiệu chung.
Đúng lúc việc theo sát từng hộ, từng thửa ruộng và đảm bảo mọi người cùng tuân thủ một quy trình sản xuất ngày càng phức tạp, V-Standard xuất hiện, san sẻ một phần công việc thông qua các "trợ lý" AI ngoài đồng. Kết quả, đã có những thành viên không tuân thủ buộc phải rời đi và các vùng trồng không đạt chuẩn cũng bị loại bỏ khỏi hệ thống.
"AI nghe rất xa lạ, nhưng khi ứng dụng qua app thì mọi người thấy khá dễ dàng và thuận tiện," chị Ninh cho biết.
Đây cũng chính là mục tiêu mà nhóm phát triển V-Standard đặt ra: thiết kế một ứng dụng hiệu quả và đủ đơn giản để người nông dân muốn sử dụng mỗi ngày.
"Công nghệ phải học cách xuống ruộng"
TS. Nguyễn Thành Tâm ban đầu nhìn bài toán phát triển ứng dụng dưới góc độ thuần túy công nghệ. Nhóm của ông muốn số hóa việc truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch nhất.
Nhưng dần dần, họ nhận ra một vấn đề khó hơn: làm thế nào để biến các quy trình canh tác thực tế thành dữ liệu mà máy có thể hiểu và xử lý.
Tiêu chuẩn thường nằm tản mát trong những văn bản dài. Máy tính không thể đơn giản đọc một file PDF rồi rồi tự chuyển những câu chữ đó thành các thao tác cụ thể cho người nông dân.
Đơn cử, một quy định đơn giản trong bộ tiêu chuẩn VietGAP yêu cầu nông dân "ngừng sử dụng phân bón hóa học trước khi thu hoạch ít nhất 14 ngày đối với rau ăn lá", khi đưa vào phần mềm phải được bóc tách thành nhiều điều kiện logic: áp dụng cho loại cây nào, tính từ mốc thời gian nào, liều lượng ra sao.
Để "dịch" những tập tài liệu dày đặc chi tiết thành các tính năng app tự động và hiệu quả, nhóm của TS. Tâm đã làm việc với các chuyên gia của STAMEQ - trong đó có những người thiết kế nên các tiêu chuẩn và các chuyên gia chứng nhận tiêu chuẩn. Nếu app để sót bất kỳ bước nào, quy trình sản xuất của người nông dân sẽ xuất hiện lỗ hổng dữ liệu, và đến cuối vụ, sản phẩm của hợp tác xã có thể không được tổ chức chứng nhận phê duyệt.

Đây là lúc "công nghệ phải học cách xuống ruộng", TS. Tâm nói.
Có những thiết kế app mà chỉ khi bước chân xuống ruộng cùng người nông dân, các nhà nghiên cứu mới hiểu vì sao nó phải như vậy. V-Standard ra mắt hồi tháng Bảy là phiên bản thứ ba, sau nhiều lần tinh chỉnh.
Chẳng hạn, do ngoài ruộng không có internet ổn định, nhóm nghiên cứu phải thiết kế thêm tính năng lưu offline trên máy để khi đến chỗ có mạng, dữ liệu sẽ được tải lên.
Ban đầu, các kỹ sư nghĩ bà con có thể nhập liệu bằng tay trên điện thoại. Nhưng khi lao động, nông dân phải cầm cuốc, cầm thuổng hay khuân vác vật tư, nên không phải lúc nào cũng có thể cầm điện thoại. Nhóm lập tức bổ sung tính năng nhập liệu bằng giọng nói (voice-to-text), giúp bà con chỉ việc nói vào điện thoại, AI sẽ tự ghi lại.
Tương tự, tính năng nhập liệu bằng hình ảnh giúp việc cung cấp thông tin dễ hơn. Bà con nhấn nút chụp ảnh hóa đơn, bao bì hoặc tài liệu, hệ thống sẽ tự động nhận diện và số hóa thông tin, rồi điền vào các ô tương ứng.
"Nếu chỉ ngồi trong phòng lab, chúng tôi không thể nào nghĩ ra hết những tình huống thực tế như vậy", TS. Tâm chia sẻ.
V-Standard hiện được tích hợp vào nền tảng truy xuất quốc gia và cung cấp miễn phí trong 2 năm đầu cho các hộ nông dân. Đến nay, đã có 19 hợp tác xã tham gia trên nền tảng, quản lý 147 sản phẩm nông nghiệp và thu hút 230 tài khoản của nông dân.
Thông qua nền tảng này, các hợp tác xã và nông hộ đã nộp thành công 1.015 hồ sơ minh chứng phục vụ chứng nhận.
Để truy xuất nguồn gốc trở nên quen thuộc với nông hộ
Gần 10 năm trước, bài toán của Hợp tác xã Yến Dương là thuyết phục xã viên thay đổi cách sản xuất để đáp ứng những tiêu chuẩn mới. Họ đã thu được trái ngọt.
"Từ chỗ chỉ bán ở chợ quê, giờ sản phẩm của chúng tôi có mặt trên khắp sàn thương mại điện tử. Đó là sức mạnh của công nghệ – và của phụ nữ nông thôn", chị Ma Thị Ninh nói.

Giờ đây bài toán đã sâu hơn: làm thế nào để những việc xã viên vẫn làm mỗi ngày trở thành dữ liệu có thể kiểm chứng để nâng cao giá trị sản phẩm cho hợp tác xã. Nói cách khác là tập cho bà con thói quen "làm đến đâu, ghi đến đó".
Liệu những xã viên đang đứng giữa ruộng có thấy việc mở ứng dụng và ghi lại công việc của mình dễ dàng đến mức trở thành một thói quen không?
Đây là một câu hỏi then chốt, bởi chỉ khi dữ liệu không còn là gánh nặng chứng nhận, mà trở thành thường quy trong quá trình làm ra sản phẩm thì truy xuất nguồn gốc mới thực sự bước ra khỏi màn hình điện thoại và đi vào đời sống.
---
* V-Standard là một trong những kết quả hợp tác song phương trong khuôn khổ Chương trình Aus4Innovation (2018 – 2028) do Chính phủ Australia tài trợ, Bộ KH&CN và Cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghiệp liên bang Australia (CSIRO) quản lý, nhằm giúp Việt Nam phát triển các giải pháp đổi mới sáng tạo giải quyết các vấn đề trọng yếu trong nông nghiệp, y tế, môi trường và nhiều lĩnh vực khác.