Mất cân bằng giới tính khi sinh không chỉ xảy ra ở Việt Nam nhưng Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tỷ số giới tính khi sinh cao nhất, lên tới hơn 110-115 bé trai/100 bé gái trong suốt thập kỷ gần đây (trong khi mức trung bình toàn cầu vào khoảng 105/100). Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam được phát hiện từ năm 2004, đến nay chưa giảm rõ rệt và chưa trở về mức cân bằng tự nhiên.
Việc liên tục có nhiều bé trai chào đời hơn mức tự nhiên "không chỉ là vấn đề nhân khẩu học mà còn phản ánh những định kiến giới vẫn đang chi phối quyết định của các gia đình và xã hội", TS Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội, nhận định.
Xét dưới góc độ hình tượng, nam giới được định vị gắn liền với trách nhiệm nối dõi, gánh vác, trụ cột. Còn nhìn về động lực kinh tế, "người ta luôn mong con trai vì tin người đàn ông làm ra được nhiều của cải hơn, có sức vóc hơn, đóng góp cho gia đình để bố mẹ có thể dựa vào. Thậm chí trước đây, những gia đình toàn đàn bà con gái thì bị coi là ít có cơ hội làm ra của cải hơn, bị coi là thấp cổ bé họng", TS Khuất Thu Hồng lý giải.
Theo các nghiên cứu của Cơ quan dân số liên hợp quốc (UNFPA), tâm lý chuộng con trai ở Việt Nam bắt nguồn từ những quan niệm truyền thống về dòng họ, thờ cúng tổ tiên và vai trò của nam giới trong gia đình. Những năm gần đây, việc dễ tiếp cận các dịch vụ y tế để chẩn đoán hoặc lựa chọn giới tính thai nhi cũng dẫn đến tình trạng nạo phá thai vì lý do giới tính.
Gần Việt Nam, các nước Đông Á từng đối diện tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh như Trung Quốc và Hàn Quốc đều đã triển khai chính sách ngăn chặn lựa chọn giới tính thai nhi, truyền thông nhấn mạnh giá trị của con gái và hạn chế siêu âm, phá thai không cần thiết.
Tuy nhiên, quá trình tái cân bằng diễn ra chậm: Hàn Quốc từng có mức chênh lệch lên tới 117 bé trai/100 bé gái năm 1994 rồi dao động trong khoảng hai thập kỷ mới xuống gần mức cân bằng, còn Trung Quốc từng có thời điểm chịu mức chênh lệch lên tới khoảng 118 bé trai/100 bé gái trong thập niên 2000-2010 và gần đây giảm dần nhưng vẫn loanh quanh mức 110 bé trai/ 100 bé gái.
Việt Nam thuộc nhóm diễn biến chậm hơn: tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh từ khoảng năm 2005, duy trì ở mức cao trong nhiều năm và lên tới đỉnh điểm 115 bé trai/100 bé gái vào năm 2018, sau đó dần đi xuống. Nhưng đến nay, mức độ chênh lệch giới tính khi sinh ở Việt Nam vẫn nhóm cao trên thế giới, khoảng 110 bé trai/100 bé gái.
Đồng bằng sông Hồng là vùng có tình trạng mất cân bằng kéo dài và nổi bật nhất, với tỷ số từng lên tới 124,6 bé trai/100 bé gái năm 2013 và vẫn ở mức 114,8 năm 2025. Trong khi đó, Đông Nam Bộ giảm mạnh từ đỉnh 128 năm 2018 xuống 106,4 năm 2025, gần trở về mức tự nhiên. Đáng chú ý, dù nhiều vùng đã giảm so với mức đỉnh, tỷ số vẫn cao hơn ngưỡng tự nhiên (khoảng 104 - 106 bé trai/100 bé gái).
Hệ lụy kéo dài
UNFPA cảnh báo mất cân bằng giới tính khi sinh kéo dài có thể gây xáo trộn cơ cấu hôn nhân, làm gia tăng áp lực khiến phụ nữ kết hôn sớm ở một số vùng, đồng thời làm trầm trọng thêm nguy cơ bạo lực trên cơ sở giới, bóc lột tình dục và buôn bán người. Ở chiều sâu hơn, tâm lý ưa thích con trai còn xâm phạm quyền tự quyết về sinh sản, gây tổn hại đến sức khỏe thể chất và tinh thần của phụ nữ, đồng thời củng cố những định kiến vốn coi trọng nam giới hơn nữ giới.
Những áp lực đó không chỉ đè nặng lên nữ giới. "Nam giới cũng chịu sự định hình của hệ thống phụ hệ. Nam giới cũng là những người được xã hội dạy và kỳ vọng phải mạnh mẽ, phải thành công, phải gánh vác gia đình", ông Nguyễn Đình Đức, giảng viên Khoa Luật Kinh tế, trường Đại học Kinh tế Luật, ĐHQG TP.HCM nhận định.
Những áp lực đó càng trở nên nặng nề hơn khi nhiều nam thanh niên không có khả năng tìm bạn đời. Trong báo cáo Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074, Cục Thống kê ước tính, hiện nay có 450.000 nam bị thừa và theo kịch bản trung bình, đến năm 2034 sẽ thừa khoảng 700.000 nam trong độ tuổi kết hôn (20 - 39), tức là họ không thể tìm kiếm bạn đời. Nếu vẫn không có thay đổi, thì mức chênh lệch này có thể lên tới khoảng 1,35 triệu nam giới vào năm 2049, khiến cạnh tranh tìm kiếm bạn đời càng gay gắt và làm trầm trọng thêm những rủi ro xã hội liên quan đến mất cân bằng giới tính.
Trên thực tế không phải Việt Nam thiếu chính sách, thậm chí còn tuyệt đối cấm lựa chọn giới tính khi sinh nhưng tại sao lệnh cấm đó vẫn không đủ chặn đà mất cân bằng giới tính khi sinh?
Báo cáo của UNFPA nhấn mạnh, bên cạnh thực thi pháp luật, cần chuyển từ tuyên truyền đại trà sang can thiệp có mục tiêu, dựa trên dữ liệu về những nhóm dân cư và địa bàn có tỷ số giới tính cao; đồng thời đánh giá thường xuyên xem các chính sách có thực sự làm thay đổi hành vi hay không. Các chính sách giảm mất cân bằng giới tính khi sinh nên tập trung nhiều hơn ở khu vực phía Bắc.
"Phải tránh việc gia cố định kiến ở nhiều cấp độ: trong môi trường giáo dục, cả giáo dục nhà trường (cách dạy, cách nói, thông qua các bài học, hoạt động trong nhà trường), giáo dục trong gia đình (dạy dỗ của bố mẹ, phân công công việc, việc làm, áp đặt của bố mẹ) và giáo dục trong xã hội thông qua truyền thông (báo chí, phim ảnh, mạng xã hội)", TS. Khuất Thu Hồng nói.
Nếu không thay đổi định kiến giới thì mỗi năm vẫn có hơn 40.000 trẻ em gái không được sinh ra ở Việt Nam, như UNFPA ước tính trong nghiên cứu về những phụ nữ "biến mất" ở các nước châu Á. Con số được tính dựa trên sự khác biệt giữa ước tính trẻ em gái phải được sinh ra theo quy luật tự nhiên và số trẻ em gái thực tế được sinh ra trong một năm.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong bài:
[1] Báo cáo Triển vọng dân số thế giới, Liên Hợp Quốc (2024)
[2] Niên giám thống kê năm 2025, Cục thống kê (2026)
[3] Báo cáo "Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074", Cục Thống kê (2025)
[4] Báo cáo 'Sex imbalances at birth in Viet Nam: Trends, Variations, and Determinants', UNFPA (2020)