Thực hành thiền - ngành công nghiệp tỷ đô
Xã hội phương Tây thường sử dụng định nghĩa chánh niệm của Tiến sĩ Jon Kabat-Zinn, cha đẻ liệu pháp Giảm căng thẳng dựa trên chánh niệm (MBSR), người chịu ảnh hưởng của thiền sư Thích Nhất Hạnh. Theo đó, thiền chánh niệm là: "sự chú ý có chủ đích, trong thời điểm hiện tại, một cách không phán xét đối với trải nghiệm diễn ra theo từng khoảnh khắc".
Ở phương Tây, thiền đã được "phi tôn giáo hóa" và áp dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe tinh thần, đặc biệt từ những thập niên cuối thế kỷ trước. Liệu pháp MBSR của Kabat-Zinn cùng các mô hình tâm lý trị liệu phát triển từ nó đã đưa vào giảng dạy, điều trị tại nhiều cơ sở y tế Mỹ.
Hàng loạt nghiên cứu khoa học chỉ ra lợi ích rõ rệt của chương trình thiền được chuẩn hóa như MBSR, từ giảm căng thẳng đến hỗ trợ tương đương thuốc trong trầm cảm hoặc rối loạn lo âu nhẹ. Trong bối cảnh khủng hoảng sức khỏe tinh thần toàn cầu, thiền trở thành giải pháp hiệu quả, chi phí hợp lý, ai cũng có thể tự thực hành.
Bên cạnh ứng dụng y học, chánh niệm trở thành "bí kíp sống" được nhiều người nổi tiếng tích cực quảng bá. Các ứng dụng được định giá hàng tỷ USD như Calm hay Headspace cung cấp từ bài tập ngắn 15 phút mỗi ngày đến các khóa thiền chuyên sâu kéo dài nhiều tuần.
Từ một thực hành tại các thiền viện, ngôi chùa hẻo lánh, tách biệt khỏi nhịp sống thường nhật ở những quốc gia Phật giáo, thiền ngày nay đã trở thành ngành công nghiệp toàn cầu trị giá ước tính gần chục tỷ USD và dự báo tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm tới.
Thiền chánh niệm được quảng cáo như thuốc an thần lành tính cho cuộc sống đương đại bận rộn căng thẳng. Ảnh: Ray Lei/Pexels
Ở Việt Nam, thiền cũng dần bước ra khỏi khuôn khổ chùa chiền để chuyển mình theo hướng thương mại hóa. Nhiều khu nghỉ dưỡng bắt đầu tích hợp chánh niệm vào các chương trình dưỡng sinh với giá lên tới hàng nghìn USD. Các khóa học "chữa lành" cũng bùng nổ, đưa "chánh niệm" thành từ khóa đắt giá thu hút người tham gia.
Tuy nhiên, đằng sau bức tranh màu hồng, ngày càng nhiều bằng chứng khoa học cảnh báo về nguy cơ tác động tới sức khỏe con người nếu thực hành thiền chánh niệm thiếu hướng dẫn chuyên môn. Tiêu biểu là các nghiên cứu của TS Willoughby Britton, ngành tâm thần học và Hành vi con người tại Đại học Brown, Mỹ.
Nguy cơ "tẩu hỏa nhập ma"
TS Willoughby Britton là một trong những nhà tâm thần học tiên phong nghiên cứu tác động tiêu cực của thiền chánh niệm. Bà cũng là người thực hành thiền lâu năm, từng dành nhiều tâm huyết lan tỏa lợi ích của thiền.
Sau khi người bạn thân thời đại học qua đời, Britton rơi vào rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD). Để giúp bà vượt qua biến cố, cha bà tặng cuốn sách A Path with Heart của thiền sư Jack Kornfield. Cuốn sách thắp lên trong bà niềm đam mê với thiền chánh niệm, và bà bắt đầu thực hành mỗi ngày.
Britton dần chuyển hướng sự nghiệp sang nghiên cứu thiền và Phật pháp, thậm chí từng cân nhắc rời bỏ học thuật để xuất gia tại tu viện ở châu Á. Bà cũng hoàn thành các khóa đào tạo giảng dạy phương pháp MBSR của Kabat-Zinn và Liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm (MBCT). Áp lực đè nặng trong thời gian thực tập lâm sàng tại Đại học Brown khiến bà nâng thời lượng thiền lên 3 tiếng mỗi ngày.
Và cũng từ đây bà gặp phải những thay đổi kỳ lạ. Britton trải qua triệu chứng rối loạn phân ly (dissociation), với cảm giác như đang đứng bên ngoài quan sát cơ thể mình. Do mất cảm nhận rõ ràng về cơ thể, bà gặp khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày như lái xe. Khi đem thắc mắc này hỏi một thiền sư hướng dẫn, ông lại chúc mừng bà đạt tới tầng giác ngộ mới, rằng đây là trải nghiệm "vô ngã" đích thực.
Bước ngoặt đến khi Britton làm việc tại một bệnh viện tâm thần nội trú. Tại đây, bà tiếp xúc nhiều bệnh nhân phải cấp cứu do lên cơn động kinh hay hoảng loạn đến từ các trung tâm thiền. Tại các buổi hội thảo khoa học, ngày càng nhiều người chủ động tìm gặp bà để chia sẻ về những tác hại họ gặp phải khi thiền như trầm cảm hay co giật.
Từ những thực tế đó, Britton nhận ra lỗ hổng lớn trong các nghiên cứu về thiền thời bấy giờ: hầu hết kết quả đều thiên lệch theo hướng tích cực. Theo bà, lý do đơn giản là các nghiên cứu sinh thường mặc định không phỏng vấn thiền sinh về tác dụng phụ, chưa kể nhiều dự án lại được tài trợ bởi chính các tổ chức cổ xúy thiền định. Điều này thúc đẩy Britton theo đuổi nghiên cứu mặt trái của thiền, đặc biệt trên những nhóm không có tiền sử bệnh lý tâm thần.
Ảnh minh họa: Arthouse Studio/Pexels
Năm 2017, Britton cùng chồng là TS Jared Lindahl tại Đại học Brown công bố công trình nghiên cứu định tính toàn diện được coi là đầu tiên về tác dụng phụ ở những người thực hành thiền, "The Varieties of Contemplative Experience". Nghiên cứu kéo dài trong suốt 10 năm, được thực hiện trên 60 thiền sinh gặp khó khăn trong quá trình thiền, cùng 32 chuyên gia (gồm các thiền sư và nhà lâm sàng). Gần hai phần ba số thiền sinh này hoàn toàn không có tiền sử bệnh lý tâm thần trước đó.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong nhóm 60 người gặp các vấn đề với thực hành thiền, 82% báo cáo từng trải qua sợ hãi, lo âu, hoảng loạn hoặc hoang tưởng bị hại. Một số khác thậm chí gặp ảo giác, đau đớn thể xác, phẫn uất hoặc có ý định tự sát. Đáng chú ý, 88% số người trong nhóm 60 người này cho biết những trải nghiệm khó khăn tràn sang đời sống hằng ngày hoặc có ảnh hưởng vượt ra ngoài thời gian thiền/khóa tu, với thời gian ảnh hưởng kéo dài trung vị từ 1 đến 3 năm.
Bà cùng chồng tiếp tục thực hiện nhiều nghiên cứu khác về tác hại của thiền, và được các thiền sinh chia sẻ trải qua các triệu chứng loạn thần như "tẩu hỏa nhập ma" cùng cảm giác có luồng điện chạy qua cơ thể. Một người cho rằng cô cần cứu thế giới khỏi "âm mưu" do nhân viên trung tâm khóa tu dàn dựng, rồi tạt nước vào mặt thiền sư và tát giám đốc trung tâm thiền. Một người khác chia sẻ thiền đã đánh thức "nguồn năng lượng" với "ý chí riêng biệt" bên trong anh ta, nguồn năng lượng này từng suýt ép anh nhảy xuống từ ban công vì "muốn bay vút lên". Theo lời kể của họ, họ không có tiền sử rối loạn tâm thần hay điều trị bệnh tâm thần trước đó.
Các nghiên cứu của Britton cũng chỉ ra rằng các kỹ thuật thiền khác nhau kích hoạt những tác dụng phụ riêng biệt. Kỹ thuật quan sát/dán nhãn suy nghĩ, cảm thọ (open monitoring/noting) dễ gây bùng phát các phản ứng lo âu và căng thẳng, trong khi việc neo tâm trí vào một điểm như hơi thở (focused attention) có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng trầm cảm về lâu dài. Thiền không phải một can thiệp đồng nhất và liều lượng, kỹ thuật, đối tượng đều có thể ảnh hưởng đến kết quả.
Làn sóng nghiên cứu học thuật về tác dụng phụ của thiền chánh niệm
Một khảo sát khác do Simon B. Goldberg (đại học Wisconsin-Madison), Britton và cộng sự thực hiện trên 434 người thực hành thiền, ghi nhận 10,4% báo cáo ít nhất một trải nghiệm bất lợi kéo dài từ một tháng trở lên; 10,6% cho biết những trải nghiệm này gây một mức độ suy giảm chức năng nào đó, nhưng chỉ 1,2% cho biết tình trạng suy giảm chức năng kéo dài từ một tháng trở lên.
Công trình của Britton đã khơi mào làn sóng nghiên cứu học thuật về mặt trái của chánh niệm. Một báo cáo tổng quan do TS Miguel Farias (Đại học Oxford, Anh) chủ trì công bố năm 2020 ghi nhận tác dụng phụ xuất hiện ở 65% số nghiên cứu về thiền, trong đó phổ biến nhất là tình trạng gia tăng lo âu và trầm cảm.
Các nghiên cứu quy mô mẫu lớn sau đó tiếp tục củng cố các kết quả này. Khảo sát cắt ngang quốc tế công bố cuối năm 2021 của nhóm nghiên cứu Đức trên 1.370 người thực hành thiền thường xuyên trên thế giới ghi nhận: 13% thiền sinh từng gặp tác dụng phụ tiêu cực, trong đó bao gồm cả những trường hợp biến chứng nghiêm trọng đe dọa tính mạng hoặc yêu cầu nhập viện.
Năm 2022, Đại học Oxford công bố kết quả từ thử nghiệm lâm sàng thuộc dự án MYRIAD trên hơn 8.000 học sinh tại 85 trường học ở Anh. Kết quả cho thấy chánh niệm không giúp cải thiện sức khỏe tinh thần của trẻ em, thậm chí còn làm tồi tệ hơn tình trạng của những em vốn có nguy cơ gặp vấn đề tâm lý.
Với tỷ lệ tiêu cực lên tới 10%, nếu coi các liệu pháp thực hành thiền được coi là dược phẩm, tác dụng phụ của chúng sẽ bị xếp vào nhóm "rất phổ biến" theo chuẩn phân loại y khoa. Điều này có nghĩa chánh niệm không thể tiếp tục được tiếp thị tràn lan như "thần dược" lành tính, mà bắt buộc phải đi kèm chống chỉ định nghiêm ngặt.
Trải nghiệm tiêu cực của thiền sinh bị phớt lờ hoặc trở thành mặc cảm tội lỗi
Một trong những điểm nhức nhối được TS Britton chia sẻ khi thực hiện nghiên cứu là cảm giác dằn vặt và tội lỗi của thiền sinh khi gặp khó khăn.
Sau khi công bố các phát hiện đầu tiên về mặt trái của thiền, phòng thí nghiệm của TS Britton liên tục nhận cuộc gọi chia sẻ trải nghiệm tiêu cực của thiền sinh, từ hoảng loạn, rối loạn phân ly, co giật, tật máy giật (tics) đến suy sụp sức khỏe. Điểm chung ở các thiền sinh này là sự xấu hổ và cô độc. Họ không thể tìm thấy sự đồng cảm từ người thân hay cả các chuyên gia tâm lý, bởi trong mắt công chúng, thiền luôn được mặc định là liệu pháp hoàn toàn vô hại.
Khi mang những triệu chứng này hỏi các vị thiền sư hướng dẫn, họ thường chỉ nhận được câu trả lời mơ hồ như: "Nó phải tệ đi trước khi tốt lên", hoặc "Càng chống lại thì càng đau khổ". Bất kỳ trải nghiệm tồi tệ nào cũng chỉ là chướng ngại vật để trưởng thành, hoặc do thiền sinh thực hành sai cách, cứ tiếp tục thiền rồi mọi chuyện sẽ qua.
Không thể phủ nhận tác dụng của thiền chánh niệm, nhưng thiền không phải viên thuốc an thần có thể chữa bách bệnh tâm lý. Ảnh: Serhii Barkanov/Pexels
Thái độ né tránh này tồn tại ở cả những tầng nấc cao nhất. Trong cuộc hội thảo năm 2012, sau phần trình bày của Britton về những trải nghiệm khó khăn liên quan đến thiền, Đạt Lai Lạt Ma cho rằng một số người có thể rơi vào trạng thái phấn khích hoặc hiểu sai trải nghiệm của mình; ông cũng nhấn mạnh việc cần đọc, suy xét và xây dựng hiểu biết vững chắc trước khi thực hành. Theo bản ghi hình được Harper’s thuật lại, ông cho rằng những mặt tiêu cực này là do người thực hành mắc lỗi và khuyến khích Britton tiếp tục nghiên cứu.
Britton cũng chỉ ra căn bệnh "nghiện thành tích" ở nhóm học thức cao thực hành chánh niệm. Họ lao vào thiền như mục tiêu cần chinh phục, cố gắng "đạt chuẩn" bằng cách đè nén, phớt lờ mọi tín hiệu cảnh báo cảm xúc.
Chính thực trạng đó thôi thúc bà thành lập Cheetah House, tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ người gặp khủng hoảng sức khỏe khi thiền. Nhưng việc công bố kết quả nghiên cứu cũng khiến Britton phải trả giá. Bà đối mặt với các cáo buộc gieo rắc sợ hãi quá đà về thiền, kèm sự xa lánh từ chính các cộng đồng thiền bà từng phỏng vấn.
Chánh niệm không phải viên thuốc an thần chữa bách bệnh tâm lý
Không thể phủ nhận tác dụng của thiền chánh niệm, nhưng không phải liệu pháp thiên nào cũng là viên thuốc an thần có thể chữa bách bệnh tâm lý cho mọi đối tượng.
Nhà nghiên cứu Ronald Purser dùng thuật ngữ "McMindfulness" để châm biếm chánh niệm hiện đại. Thay vì giúp con người dừng lại nhìn nhận bản thân toàn diện, thiền bị biến thành món ăn nhanh xoa dịu căng thẳng tức thì. Cách làm này quy hết trách nhiệm về cá nhân, khiến họ bỏ qua nguyên nhân sâu xa hơn của căng thẳng mãn tính, như lịch trình làm việc kiệt sức, thói quen sinh hoạt thiếu lành mạnh hay mâu thuẫn dai dẳng trong đời sống thường ngày.
Sự thương mại hóa này cũng tách thiền chánh niệm khỏi gốc rễ ban đầu. Thiền, đặc biệt là thiền miên mật dài ngày ở các tu viện chuyên sâu, vốn không được thiết kế như biện pháp thư giãn, giảm căng thẳng hay tối ưu hóa năng suất cho giới văn phòng hiện đại. Đây là thực hành dành cho những Phật tử thuần thành, nhà sư xuất gia theo đuổi con đường tu tập.
Trong bài Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta), bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật được truyền thống Phật giáo ghi lại, Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của con đường Trung đạo, tránh cả đắm mình trong dục lạc lẫn tự hành xác.
Bát Chánh Đạo, con đường dẫn đến an lạc và giải thoát, là hệ thống sống toàn diện gồm 8 yếu tố kết nối chặt chẽ, trong đó, Chánh niệm (Sati) không chỉ là "bài tập ngồi thiền" cô lập. Một người sẽ khó đạt sự tĩnh lặng trong tâm trí nếu thiếu Chánh nghiệp (hành động tử tế, không làm hại ai), Chánh mạng (mưu sinh bằng nghề chân chính, không xâm phạm lợi ích của người khác), Chánh ngữ (lời nói hòa nhã, trung thực), hay Chánh kiến và Chánh tư duy (trí tuệ để nhận biết điều nên làm, điều nên tránh).
Hiệu quả của việc thực hành phụ thuộc rất lớn vào hệ sinh thái cộng đồng cùng chia sẻ giá trị, điều không được đảm bảo trong các khóa thiền ngắn hạn hay môi trường công sở.
Với những người vẫn muốn tiếp cận thiền, nguyên tắc cốt lõi vẫn là sự thận trọng. Thiền không phải mô hình áp dụng đại trà mà bao gồm những phương pháp phù hợp với từng đối tượng.
Người tập nên bắt đầu từ vài phút mỗi ngày rồi tăng dần theo thời gian thay vì vội vã tham gia các khóa tu dài ngày. Nếu có tiền sử bệnh tâm lý, cần tham khảo tư vấn y khoa trước khi thực hành. Quan trọng nhất, hãy luôn lắng nghe phản ứng của cơ thể và dừng lại ngay khi có dấu hiệu bất thường.
"Hãy coi thiền như bất kỳ mối quan hệ nào," TS Britton khuyên. "Nếu bạn cảm thấy tệ hơn khi ở cạnh người đó thì có lẽ đã đến lúc cần chia tay."
Lam Ngọc tổng hợp
[1] The dark side of meditation, The Atlantic, https://www.theatlantic.com/ideas/2026/09/meditation-willoughby-britton-downsides/688474/
[2] Meditation can be harmful and can even make mental health problems worse, The Conversation, https://theconversation.com/meditation-can-be-harmful-and-can-even-make-mental-health-problems-worse-230435
[3] Lost in thought: psychological risks of meditation, Harper's Magazine, https://harpers.org/archive/2021/04/lost-in-thought-psychological-risks-of-meditation/
[4] Mindfulness-Based Stress Reduction vs Escitalopram for the Treatment of Adults With Anxiety Disorders: A Randomized Clinical Trial, JAMA Psychiatry, https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/36350591/
[5] Mindfulness Practice and Mental Health Among Buddhist Followers in Hue, Vietnam: A Cross-Sectional Study, The Journal of International Buddhist Studies College, https://so03.tci-thaijo.org/index.php/ibsc/article/view/300817
[6] The varieties of contemplative experience: A mixed-methods study of meditation-related challenges in Western Buddhists, PLOS ONE, https://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0176239
[7] The contributions of focused attention and open monitoring in mindfulness-based cognitive therapy for affective disturbances: A 3-armed randomized dismantling trial, PLOS ONE, https://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0244838
[8] Defining and measuring meditation-related adverse effects in mindfulness-based programs, Clinical Psychological Science, https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC8845498/
[9] Adverse events in meditation practices and meditation-based therapies: a systematic review, Acta Psychiatra Sandinavia, https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32820538/
[10] Prevalence, predictors and types of unpleasant and adverse effects of meditation in regular meditators: international cross-sectional study, BJPsych Open, https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC8693904/
[11] Effectiveness and cost-effectiveness of universal school-based mindfulness training compared with normal school provision in reducing risk of mental health problems and promoting well-being in adolescence: the MYRIAD cluster randomised controlled trial, Evidence-based Mental Health, https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/35820992/