![]() |
A Maritime Vietnam của Li Tana vừa được xuất bản năm 2024. Nguồn: Shutter |
Li Tana [1], một trong những nhà nghiên cứu quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực lịch sử Việt Nam, mới đây đã cho xuất bản cuốn A Maritime Vietnam – From Earliest Times to the Nineteenth Century (tạm dịch: Hải thương Việt Nam: Từ sơ sử đến thế kỷ 19). Có thể nói, đây là một công trình đại diện cho khuynh hướng đánh giá lại vai trò của biển và thương mại biển trong lịch sử Việt Nam, vốn thường được nhìn nhận dưới nhãn quan truyền thống xa rừng nhạt biển của hệ thống tam nông (nông dân-nông nghiệp-nông thôn).
Khuynh hướng nghiên cứu này đã được khơi gợi và phát triển từ những năm đầu 2000, khi các học giả trong và ngoài nước công bố các chuyên khảo, bài viết về bản chất và vai trò của biển trong lịch sử Việt Nam. Với Li Tana, bà đưa ra nhận định rằng kinh tế biển và nhiều thành tố của biển đã tác động đến những thay đổi chính trị quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Nhờ khả năng khai thác, sử dụng nhiều nguồn tư liệu sơ cấp, thứ cấp đa dạng - bao gồm châu bản triều đình, thực lục, sử ký, ghi chép của thương nhân,... - tác giả đã tái hiện bức tranh toàn cảnh về hải thương và mậu dịch vùng, liên vùng, liên khu vực trong hai thiên niên kỷ tiền thuộc địa của Việt Nam.
Cuốn sách mở đầu bằng việc đề cập một trong những thời kỳ hoàng kim nhất của chế độ quân chủ Nho giáo Đại Việt, triều đại Lê Thánh Tông (1460-97). Li vận dụng quan điểm của Tôn Lai Thần [2] khi nhắc đến đế chế thuốc súng Đại Việt, với hỏa khí mang lại cho triều đình Thăng Long quyền uy không chỉ trong nước mà còn trên bình diện quốc tế. Với khoảng 38% quân đội được trang bị hỏa khí, Đại Việt đã làm đảo lộn hoàn toàn cán cân quyền lực bán đảo Đông Nam Á những năm 1470-80, xâm chiếm các tiểu quốc Lào, uy hiếp các tiểu vùng tự trị tại Vân Nam (Trung Hoa) và Lanna (Bắc Thái Lan), hành quân đến tận sông Irrawaddy (Myanmar) và chấm dứt hoàn toàn cục diện đối chọi Đại Việt - Champa. Thoạt nhìn, đó thuần túy là lịch sử một chuỗi các xung đột quân sự nhưng đằng sau hậu trường là một mạng lưới các giao dịch và buôn bán phi quan phương để mang đến Đại Việt những nguyên liệu quan trọng nhất phục vụ việc chế thuốc súng: lưu huỳnh và diêm tiêu. Điều này quả thật đã thách thức nhãn quan lịch sử truyền thống cho rằng Đại Việt là một nhà nước nông nghiệp, đóng cửa và tập trung nội chính - trước thực tế lịch sử là kinh tế và quân sự Đại Việt chịu tác động của hải thương liên vùng. Ngay cả việc mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam và phía Tây cũng cho thấy tham vọng của chính Lê Thánh Tông - một trong những nhà quân chủ sùng Nho bậc nhất trong lịch sử Việt Nam bên cạnh Minh Mạng (1820-40) - trong việc kiểm soát những không gian giàu có về thương mại.
A Maritime Vietnam được kết cấu trong mười chương, tái hiện sự chuyển dịch của các luồng hải thương tuyến ngắn, tuyến dài trong lịch sử Việt Nam, bao gồm các tuyến thương mại giữa Thăng Long, Phố Hiến, Vân Đồn với các hệ thống thương cảng miền Trung và Nam Bộ.
Trước tiên, Li Tana thảo luận về vùng Vịnh Bắc Bộ, một trong những nền tảng của Đại Việt, cung cấp những thành tố giúp Đại Việt trở thành một thể chế biển. Hải thương và các nguồn lợi từ biển đã biến Vịnh Bắc Bộ nói riêng, vùng Bắc Bộ Việt Nam nói chung, thành một trong những khu vực giàu có nhất của các đế chế Trung Hoa trong thời kỳ Bắc thuộc. Bởi lẽ, trong điều kiện của công nghệ hàng hải thô sơ và chịu ảnh hưởng của gió mùa, tàu thuyền đến các cảng Nam Trung Hoa bắt buộc phải dừng lại tại Vịnh Bắc Bộ, biến nơi đây thành trung tâm trung chuyển hàng hóa giữa Đông Á, Đông Nam Á và Nam Á. Sự suy giảm của hoạt động thương mại tại Vịnh Bắc Bộ sau thế kỷ X thậm chí còn là một trong những nguyên nhân quan trọng, bên cạnh sự phản kháng của người Việt và sự hỗn loạn của Hoa Bắc, buộc các đế chế phương Bắc phải từ bỏ quyền đô hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho thời kỳ tự chủ của người Việt.
Sự đi xuống của thương mại tại Vịnh Bắc Bộ không đồng nghĩa với sự suy giảm và lụi tàn của hải thương, mà thay vào đó, cho thấy vai trò của các cảng thị miền Trung trỗi dậy nhờ các thể chế biển Champa và hoạt động thương mại Hồi giáo. Bắt đầu từ thế kỷ X, thương nhân Hồi giáo từ Tây Á và Nam Á, với kỹ thuật hàng hải tốt hơn, có thể đi thẳng từ các cảng Champa đến miền Nam Trung Hoa, đã góp phần ảnh hưởng đến sự dịch chuyển của các trung tâm thương mại lớn ở Đông Nam Á. Ngay cả Đại Việt, nơi các chính quyền Lý-Trần tập trung vào đối phó với sự phát triển nhanh chóng của dân số, sự bất trị của các hào trưởng địa phương, cũng không đứng ngoài cuộc. Việc thành lập Trang Vân Đồn dưới thời Lý và sự phát triển mạnh của thương cảng trong thời Lý-Trần cho thấy sự nhạy bén của triều đình trung ương đối với các cơ hội và nguồn lợi thương mại to lớn từ biển cả. Vai trò thương mại của Hồi giáo chỉ dần suy tàn và biến mất sau khi Champa sụp đổ trước bước tiến của Đại Việt (1471), rồi dần bị thay thế bởi thương mại của người châu Âu, người Hoa và trong một số thời điểm có cả người Nhật.
Một vấn đề được Li Tana đặt dấu hỏi, tại sao biển lại mờ nhạt trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Phải chăng đặc tính tam nông và vai trò của khu vực châu thổ sông Hồng đã quá vượt trội và áp đảo những thành tố biển và không gian biển của người Việt? Hay phải chăng, đó chỉ là những nhận định phiến diện, an toàn về lịch sử của người Kinh tại châu thổ sông Hồng? Không khó nhận ra, nằm giữa giao điểm của hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, triều đình Thăng Long/Đông Kinh thường xuyên chịu áp lực chính trị từ triều đình phương Bắc và các mối đe dọa đột kích, xâm lấn từ Champa. Việc hỏa khí Đại Việt mở rộng bờ cõi xuống phía Nam được xem như một giải pháp mở rộng không gian sinh tồn của người Việt trước mối đe dọa từ phương Bắc, và cả nhằm giành lấy những lợi ích to lớn về mặt hải thương của duyên hải Nam Trung Bộ. Quá trình Nam tiến tiếp sau đó của chính thể Đàng Trong xuống châu thổ sông Cửu Long, tiếp nhận sự trung thành của chế độ Mạc Cửu ở Hà Tiên cho thấy tầm nhìn của chúa Nguyễn đối với sự dịch chuyển thương mại tại không gian Biển Tây.
Vai trò của hải thương trong thế kỷ XVII, theo Li Tana, là không thể phủ nhận ở cả hai chính thể Đàng Trong và Đàng Ngoài. Lụa thô với gốm sứ Đàng Ngoài, mía đường với trầm hương Đàng Trong là những mặt hàng được các thế lực hàng hải châu Âu, người Hoa và người Nhật ưa chuộng. Đây chính là nguồn lực chính giúp cả hai chính quyền chúa Trịnh và chúa Nguyễn duy trì các cuộc tranh đoạt trong hơn nửa thế kỷ. Tuy nhiên, thương mại và chính trị gắn kết không bền chặt trong thời kỳ này: khi cuộc chiến với Đàng Trong hạ nhiệt, chính quyền Đàng Ngoài dần từ bỏ việc giao thương quốc tế để tập trung vào vấn đề nội chính. Trong một diễn biến khác, việc người Nhật thực thi chính sách Tỏa quốc [3] và việc Hà Lan ủng hộ Đàng Ngoài, đe dọa và tấn công hoạt động thương mại Đàng Trong, đã buộc chúa Nguyễn phải dồn lực mở rộng xuống phía Nam để tiếp cận thương mại người Hoa ở châu thổ sông Cửu Long và vùng Biển Tây.
Cuốn sách còn cho thấy, ngay cả triều đại của hoàng đế Minh Mạng - người thường được đánh giá là sùng Nho, bài ngoại - cũng nhận thức rõ tầm quan trọng của biển và hải thương đối với sự ổn định của triều đại. Những chiếu chỉ được dẫn lại trên mộc bản, ghi lại trong Thực lục cũng như hình ảnh tàu chiến đóng theo kiểu phương Tây được khắc trên Cửu đỉnh cho thấy nhà Nguyễn không đứng ngoài cuộc khai thác và sử dụng nguồn lợi từ biển. Một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất của triều đình Huế nằm ở việc quản lý hoạt động của các thuyền chở gạo. Thuyền chở gạo, dù quan phương hay phi quan phương, với triều đình là một yếu tố quan trọng để kết nối ba vùng của một nhà nước mới hình thành. Không có gạo từ Nam Kỳ Gia Định, kinh thành Huế sẽ không đủ khả năng cung ứng cho dân số và triều đình, đồng nghĩa với việc không thể triển khai các chiến dịch bình loạn tại Bắc Kỳ. Li Tana thậm chí cho rằng, chính chính sách cấm xuất khẩu gạo tại Bắc Kỳ trong khi để ngỏ việc buôn lậu gạo tại Nam Kỳ vô hình trung đã khoét sâu mâu thuẫn giữa Huế với các thần dân tại Trung Châu (đồng bằng sông Hồng), đưa đến các cuộc nổi loạn và khiến nhà Nguyễn dần suy yếu.
Đặc biệt, A Maritime Vietnam cho thấy tác nhân quan phương và phi quan phương đã liên tục hiện hữu, tương tác và kiểm soát lẫn nhau trong lịch sử hải thương Việt Nam. Điển hình như hoạt động buôn bán muối - một mặt hàng được xem là độc quyền của triều đình hai nước Đại Việt và Trung Hoa. Một mạng lưới buôn lậu liên kết các quan chức Đại Việt, nhà Tống và các tù trưởng Tày-Thái vận chuyển muối đến Vân Nam và Quảng Tây để vào nội địa Trung Hoa (theo các tuyến đường biển ven Vịnh Bắc Bộ) mà không thông qua triều đình trung ương. Tương tự, các nguyên liệu như lưu huỳnh từ Malacca, diêm tiêu từ Vân Nam cho đến đồng được khai thác trái định mức ở biên giới Việt-Trung được buôn bán đến Thăng Long (qua các tuyến trao đổi dọc lưu vực các dòng sông, tiếp đó là qua hoạt động trao đổi thương mại dọc duyên hải miền Trung Việt Nam) nhằm phục vụ công nghiệp sản xuất hỏa khí, trước khi vũ khí được xuất ngược lại các tiểu quốc Lào, Tày-Thái. Men xanh côban cũng được gửi xuống các xưởng gốm Đại Việt (qua các thương nhân dọc theo đường biển duyên hải Việt Nam), giúp ngành gốm sứ Đại Việt chế tạo đồ gốm sứ xanh trắng và xuất khẩu đến các thị trường liên khu vực tại Tây Á trước thế kỷ XIV - mà một trong số đó hiện hữu trong cung điện của hoàng đế Ottoman thế kỷ XV.
Có thể nói, công trình của Li Tana khơi gợi cách nhìn nhận mới về lịch sử Việt Nam trong bối cảnh hàng hải và giao lưu quốc tế. Chúng tôi mong muốn trong tương lai gần, chuyên khảo hấp dẫn này sẽ có cơ hội được chuyển ngữ và phát hành tại Việt Nam.
[1] Li Tana là học giả tại Trường Nghiên cứu Châu Á và Thái Bình Dương, Đại học Quốc gia Úc. Luận án tiến sĩ của bà tại Đại học Quốc gia Úc năm 1992 sau này trở thành nền tảng của tác phẩm "Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18", đã được xuất bản ở Việt Nam.
[2] Tôn Lai Thần (Sun Laichen) là Giáo sư Sử học tại Đại học Bang California, TP Fullerton. Ông là chuyên gia nghiên cứu lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á sơ kỳ cận đại, đặc biệt trong các vấn đề chuyển giao công nghệ quân sự tại khu vực.
[3] Tỏa quốc (Sakoku) là chính sách cô lập với thế giới bên ngoài - ngoại trừ tiếp tục duy trì liên hệ hạn chế với một số đối tác Đông Á như Trung Hoa, Triều Tiên, Lưu Cầu và Hà Lan, được Nhật Bản thực thi từ năm 1638 đến năm 1853, khi người Mỹ dùng ngoại giao pháo hạm trên các Tàu Đen (Black Ship) để buộc chính quyền Bakufu (Mạc phủ) mở cửa đất nước.
Bài đăng KH&PT số 1337 (số 13/2025)
Mộc Công
