Tranh: Thành Chương |
![]() Tranh: Bùi Hữu Hùng |
2. Phong trào hay quan niệm thẩm mỹ?
Mỹ thuật Đông Dương gồm chỉ vài chục học trò Nam với mấy ông thầy Tây cùng một khuynh hướng thẩm mỹ "tiểu tư sản thành thị thuộc địa" khá đồng nhất. Về bút pháp là sự pha trộn lối tả thực giản đơn và bút pháp ấn tượng nhẹ nhàng. Tình cảm hiện thực cũng nhẹ nhõm thong thả. Cảm hứng lãn mạn vu vơ, vô tư lự pha chút hoài cổ đi song song với việc khai thách hai chất liệu truyền thống là sơn mài và lụa. Mỹ thuật hiện thực XHCN được thiết kế bài bản và chặt chẽ hơn từ đào tạo, công tác tư tưởng, tổ chức sáng tác tới quy cách hoạt động và quảng bá tác phẩm. Tính tư tưởng và trọng tâm chủ đề là điều ràng buộc mọi tác phẩm. Tính Đảng được hiểu như là hiệu quả tuyên truyền phục vụ của nội dung chủ đề và tính nhân dân là sự dễ hiểu gần gũi với quần chúng. Vì vậy tranh sinh hoạt tập thể là thể loại chính với 4 đề tài mũi nhọn là công nông binh và Bác Hồ. Về bút pháp là lối tả thực Xô-viết mạnh khỏe và khô khan. Các yếu tố dân gian truyền thống được cải biên và lồng ghép khéo léo. Những điều đồng nhất đó dẫn tới hiệu quả tuyên truyền cao nhưng hiệu quả thẩm mỹ thấp và "bệnh công thức sơ lược" tràn lan từ giữa những năm 1970. Phong cách cá nhân bị coi nhẹ làm mất sự hấp dẫn và độc đáo. Điều này có thể thấy ở các tác phẩm được giải chính thức của các triển lãm toàn quốc cũng như phần lớn các tác phẩm làm cơ sở trao giải Hồ Chí Minh và Nhà nước sau này.
![]() Tranh: Đặng Xuân Hòa |
![]() Tranh: Hồng Việt Dũng |
Từ 1990 mỹ thuật mở cửa và đi vòng quanh thế giới với hàng loạt triển lãm do các curator độc lập cùng các Bảo tàng, gallery và tổ chức phi chính phủ nước ngoài tổ chức. Đồng thời một thị trường mỹ thuật nhỏ bé đã được nhen nhóm. Tại VN cá nhân các nghệ sĩ cũng đã có thể tự công bố tác phẩm. Hoạt động mỹ thuật phi bao cấp nhanh chóng chiếm tỷ trọng áp đảo, lấn át phần bao cấp. Các rào cản về đề tài, tính tư tưởng, tính tuyên truyền, tính đại chúng... tự nhiên được dỡ bỏ. Các thể loại cấm kỵ như khỏa thân, trừu tượng... được công nhận, chào đón. Mọi bút pháp miễn là khác lạ với thời "sơ lược công thức" được công chúng hoan nghênh. Có câu nói vui khích bác: "Các đề tài công nông binh trí bị thay bằng chim hoa cá gái!". Trại sáng tác Đại Lải, triển lãm 16 người tại Bảo Tàng mỹ thuật Hà Nội và triển lãm trừu tượng Toàn quốc tại bảo tàng Quân khu 7 ở TP HCM đánh dấu sự trưởng thành đầy đủ của Mỹ thuật đổi mới. Từ giữa những năm 1990 điêu khắc cũng đổi mới mạnh với các trại điêu khắc quốc tế và hàng loạt nghệ sĩ trẻ có phong cách cá nhân độc đáo. Cũng từ những năm đó xuất hiện hàng loạt môn nghệ thuật mới như sắp đặt, performance, video-art... Các môn này phát triển rầm rộ nhanh chóng chiếm một tỷ lệ lớn trong các hoạt động mỹ thuật trong nước và quốc tế với một số nghệ sĩ tiên phong đáng khâm phục.
![]() Tranh: Lê Thanh Sơn |
Cần phải nói rõ là suốt 30 năm qua mỹ thuật đổi mới không phải là tất cả dù đó là gương mặt thực, sáng sủa của mỹ thuật VN. Do cách thức quản lý, tổ chức chính thống vẫn nguyên như thời bao cấp nên song song với nó vẫn tồn tại một thứ mỹ thuật phong trào cũ kỹ và một thứ nghệ thuật quan liêu lãng phí có thể thấy ở các triển lãm khu vực, toàn quốc do các Hội Mỹ thuật (từ 1989 lại trở lại là các tổ chức chính trị-xã hội) tổ chức và hàng ngàn tượng đài mọc lên khắp nước.
![]() Tranh: Lê Thiết Cương |
Tôi thiên về quan niệm coi mỹ thuật Đổi Mới như một khái niệm, một trào lưu thẩm mỹ hơn là một phong trào, một sản phẩm của một thời đoạn chính trị hay một trường phái đồng nhất. Song lịch sử vẫn đi theo trục thời gian nên ta buộc phải công nhận khái niệm mỹ thuật Đổi Mới như một chứng nhân. Một sản phẩm của một giai đoạn lịch sử văn hóa thú vị của Việt Nam. Công việc "máy móc" của môn lịch sử là nhận diện các thế hệ và các tác giả. Tiếc rằng việc nghiên cứu tác giả còn là một khâu yếu nhất của môn này ở ta.
Sau đây chỉ là thí dụ còn nhiều thiếu sót về ba thế hệ mỹ thuật Đổi Mới
Thế hệ đổi mới I gồm các tác giả hiện khoảng trên dưới 60 tuổi, những người trẻ thể nghiệm và vượt ra khỏi dòng thẩm mỹ Đông Dương và Hiện thực XHCN trong những năm 1980 đầu 1990: Đặng Thị Khuê, Đỗ Sơn, Lý Trực Sơn, Thành Chương, Lương Xuân Đoàn, Lê Huy Tiếp, Bảo Toàn, Đỗ Thị Ninh, Kim Thái, Nguyễn Quân... ở Hà Nội; Nguyễn Trung, Ca Lê Thắng, Bùi Quang Ánh, Đào Minh Tri, Đỗ Quang Em, Trịnh Cung, Hồ Hữu Thủ... ở Sài Gòn; Bửu Chỉ, Hoàng Đăng Nhuận, Trương Bé...ở Huế. Thế hệ thứ hai khá đông đảo: Nguyễn Tấn Cương, Nguyễn Hải Nguyễn, Hoàng Tường, Trần Văn Thảo, Hứa Thanh Bình, Lê Thừa Tiến... ở miền Nam; Phan Cẩm Thượng, Hà Trí Hiếu, Đặng Xuân Hòa, Trần Lương, Trần Trọng Vũ, Đào Châu Hải, Trương Tân, Hồng Việt Dũng, Lê Thiết Cương, Đào Hải Phong, Lê Quảng Hà... ở miền Bắc.Thế hệ thứ ba có Đinh Ý Nhi, Thắm Poong, Nguyễn Văn Cường, Trần Hoàng Cơ, Phạm An Hải, Đinh Công Đạt, Nguyễn Minh Thành, Trần Tuấn, Công Khánh, Ly Hoàng Ly, Châu Giang, Chinh Lê, Phan Phương Đông... ở cả ba miền đất nước.
![]() Tranh: Nguyễn Thanh Bình |
Việc nghiên cứu từng thế hệ và các tác giả sẽ rất thú vị vì đó là các lớp người và cá nhân rất khác nhau, ở cả bề mặt phong cách lẫn ở chiều sâu của khuynh hướng thẩm mỹ.
Mỹ thuật Đổi Mới là một thời sự đã qua về xã hội-chính trị nhưng nó còn là thời sự về thẩm mỹ dân tộc. Thái Bá Vân từng cho rằng "Chính "các ông" (tức thế hệ Đổi mới) mới đúng là "dân tộc hiện đại" như Đảng yêu cầu!".
Tôi là một "chủ thể" trong câu chuyện này nên chắc chắn có những ý kiến không được khách quan song tôi tin rằng mỹ thuật Đổi mới cần được nghiên cứu sâu sắc hơn tôn vinh xứng đáng hơn vì điều đó sẽ rất có lợi cho phát triển văn hóa trong giai đoạn "quốc tế phẳng" đang tới ngoài cửa.
Tranh: Đào Hải Phong | ![]() Tranh: Lý Trần Quỳnh Giang |
Chú thích ảnh trên cùng: Tranh Nguyễn Quân
Nguyễn Bỉnh Quân








