Luật pháp đã thay đổi nhưng khuôn mẫu xã hội thay đổi chậm hơn nhiều
Thành quả của quá trình đấu tranh cho bình đẳng giới, thảo luận về nữ quyền từ giữa thế kỷ XX tới nay đã mang tới những tiến bộ rõ rệt trong việc thu hẹp khoảng cách giữa nam và nữ. Mỗi dịp 8/3, truyền thông nhắc nhiều về trao quyền cho phụ nữ và về xóa bỏ định kiến. Nhưng nam giới là ở đâu trong tiến trình này?
Nếu nhìn vào hệ thống pháp luật về bình đẳng giới, về mặt nguyên tắc, từ Hiến pháp tới các Luật chuyên ngành như Luật Bình đẳng giới hoặc Luật Lao động, Luật phòng chống Bạo lực gia đình, giới tính không thể được sử dụng như một căn cứ để phân biệt đối xử. Tuy nhiên, như nhiều học giả nữ quyền chỉ ra, bình đẳng hình thức trong pháp luật không đồng nghĩa với bình đẳng thực chất trong đời sống xã hội.
Chính ở điểm này, các cuộc tranh luận về bình đẳng giới thường rơi vào thế lúng túng: Khi nữ giới đã được trao quyền nhiều hơn về mặt pháp lý, các phong trào phải giải quyết mục tiêu mang tính cấu trúc nào tiếp theo? Các thảo luận dễ sa vào tranh cãi về việc nữ giới đã có đủ quyền, việc họ cần làm là cố gắng đáp ứng tiêu chuẩn của xã hội để được công nhận.
Những câu chuyện về khoảng cách giới trong thu nhập, tỷ lệ nữ giới là nạn nhân của bạo lực, chênh lệch giữa nam và nữ ở các vị trí lãnh đạo hay tỷ lệ nam giới làm việc nhà đều có thể là những ví dụ điển hình cho thấy còn rất lâu chúng ta mới đạt được tính thực chất của "bình đẳng giới". Các chỉ báo này cũng đồng thời phản ánh một vấn đề khác: các chuẩn mực về nam tính trong xã hội vẫn chưa thực sự thay đổi.
Luật pháp chỉ mới tạo ra công cụ, còn cách chúng ta cùng thay đổi các khuôn mẫu giới, định kiến giới, đang ràng buộc cả nam và nữ, mới là quá trình khó khăn hơn nhiều.
Nếu nam giới chỉ được nhìn nhận như "vấn đề cần sửa chữa", thay vì là người cùng tham gia vào tạo tiến bộ xã hội, việc thay đổi cấu trúc phụ hệ sẽ thiếu đi một nửa lực đẩy cần thiết.
Nam giới trước kỳ vọng mới của xã hội
Trong nhiều cuộc thảo luận về giới, nam giới thường xuất hiện trong hai hình ảnh trái ngược. Họ là người bị xã hội nhắc nhở tặng hoa và quà, thể hiện tính nam che chở và chu cấp, và cũng đồng thời là người được nhắc nhở phải "thay đổi", chấp nhận rằng những giá trị xưa cũ lạc hậu và kìm kẹp phụ nữ. Nam giới mang hiện thân của thủ phạm hay chí ít là kẻ đồng lõa của hệ giá trị phụ hệ và gia trưởng. Với nhiều người, quan niệm về vai trò của các giới trong gia đình đơn giản là sự phân công quen thuộc trong gia đình qua nhiều thế hệ. Đàn ông tập trung xây dựng kinh tế vì họ không bị cản lại bởi áp lực sinh con, phụ nữ tập trung vào gia đình bởi chức năng sinh sản khiến họ khó có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ cơ quan.
Nhưng xã hội đã thay đổi. Phụ nữ học nhiều hơn, đi làm nhiều hơn, độc lập hơn trong kinh tế và lựa chọn cuộc sống. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc vai trò truyền thống của nam giới bắt đầu lung lay.
Trong bối cảnh kỳ vọng về nam giới là trụ cột vẫn tồn tại một cách phổ biến, khi phụ nữ được pháp luật bảo vệ trong việc tự do theo đuổi các lý tưởng và lựa chọn khi đã trưởng thành, áp lực lên nam giới ngày càng lớn. Ngay trong giáo dục, tỷ lệ tiếp cận giáo dục bậc trung học phổ thông của trẻ em gái đã tương đương các em trai, chỉ có sự chênh lệch tại một số khu vực đặc thù. Điều này cho thấy, ở góc độ lao động phổ thông, vốn chiếm số đông trong xã hội, cuộc cạnh tranh trên con đường sự nghiệp để đóng vai người đàn ông truyền thống ngày một khốc liệt.
Những khẩu hiệu như "giỏi việc nước, đảm việc nhà" ngày càng bị xem là lạc hậu. Phụ nữ đang được khuyến khích sống theo lựa chọn của mình, thay vì chỉ gắn với vai trò làm vợ, làm mẹ. Khi mô hình gia đình truyền thống thay đổi, vai trò quen thuộc của nam giới trong gia đình cũng trở nên kém chắc chắn hơn.
Những đòi hỏi của xã hội phụ hệ yêu cầu đàn ông phải giữ vai trò trụ cột, song song với yêu cầu cấp tiến của nữ giới trong các phong trào nữ quyền, khiến nam giới lúng túng. Nguyên tắc pháp luật buộc họ chấp nhận sự tự do của phụ nữ, nhưng cũng không thể buộc họ thay đổi lề thói xã hội, bởi quá trình chuyển hóa này chưa mời họ trở thành người đồng hành.
Nam giới đang được nghiên cứu nhiều hơn
Nam giới cũng cần được nhìn nhận như những cá nhân cũng chịu sự định hình của hệ thống phụ hệ. Nam giới cũng là những người được xã hội dạy và kỳ vọng phải mạnh mẽ, phải thành công, phải gánh vác gia đình.
Vì vậy, khi nói về bình đẳng giới, việc nhìn nhận những khó khăn của phụ nữ là cần thiết. Nhưng đồng thời, cũng cần nhìn thấy những áp lực mà nam giới đang phải gánh. Ở nhiều nước, các vấn đề như sức khỏe tâm thần, tự tử hay áp lực thành công ở nam giới đang được nghiên cứu nhiều hơn. Điều đó cho thấy các chuẩn mực nam tính truyền thống không chỉ làm phụ nữ thiệt thòi, mà đôi khi cũng làm nam giới kiệt sức. Từ đó, nam giới hiểu rõ hơn tại sao việc đứng cùng bên với nữ giới chính là giải thoát cho chính mình khỏi khuôn mẫu không còn phù hợp. Hai tiến trình ấy không đối nghịch; chúng là hai mặt của cùng một sự chuyển hóa.
Khi các chương trình về giới chỉ xem nam giới như đối tượng cần "giáo dục lại", thay vì những con người cũng chịu ảnh hưởng của cấu trúc ấy, chúng ta có thể đã bỏ lỡ một nửa tiềm năng của tiến trình thay đổi. Bình đẳng giới, khi đó, không còn là một chiến dịch dành cho một nửa xã hội, mà là một lời mời đối thoại với toàn bộ xã hội.
Phụ hệ không chỉ gây bất công cho phụ nữ mà cũng đặt lên vai nam giới những khuôn mẫu nặng nề: phải mạnh mẽ, phải thành công, phải làm trụ cột. Thực tế, nhiều nam giới cũng rơi vào khủng hoảng. Vì vậy, bình đẳng giới không phải là cuộc chiến của nữ với nam, mà là cuộc đối thoại của hai giới về cấu trúc xã hội, các quan niệm xã hội, các khuôn mẫu không còn phù hợp.
---
Tài liệu tham khảo:
[1] Fineman, M. A. (2013). The vulnerable subject: Anchoring equality in the human condition. Routledge và MacKinnon, C. A. (1989). Toward a feminist theory of the state. Harvard University Press.
[2] Xem thêm UN Women (2021) Country Gender Equality Profile Viet Nam
[3] Connell, R.W. (2005) Masculinities. 2nd ed. Berkeley: University of California Press
[4] UNFPA and the Government of Viet Nam (2019) National Study on Violence Against Women in Viet Nam
[5] IMAGES. (2017–2022). International Men and Gender Equality Survey. Promundo & UN Women, tr. 29