Ở phía tây Quảng Trị, những cánh rừng Bắc Hướng Hóa nối với Phong Nha - Kẻ Bàng là nơi sinh sống của những loài quý hiếm như sao la, đồng thời là nơi sinh kế của những cộng đồng bản địa vẫn phụ thuộc một phần vào rừng.
Đây chính là kiểu "điểm nóng" mà một nghiên cứu mới về quy hoạch bảo tồn ở Việt Nam phát hiện: nhiều nơi có giá trị bảo tồn cao lại có khả năng chồng lấn với những nơi con người đang cần không gian để phát triển sinh kế.
Nghiên cứu vừa công bố trên tạp chí Communications Earth & Environment (thuộc hệ thống Nature), cho biết Việt Nam hiện có bốn cụm điểm nóng như vậy, qua đó chỉ ra rằng mở rộng bảo tồn không thể chỉ là bài toán giữ rừng, mà còn là bài toán về sinh kế và công bằng với cộng đồng địa phương.
Rừng đặc dụng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (Quảng Trị) năm 2021. Ảnh: Hoàng Táo
Những nơi khó có thể thay thế
Trước hết, nhóm nghiên cứu - gồm các nhà khoa học Việt Nam, Anh và Canada - kiểm tra xem hệ thống khu bảo tồn hiện nay đang bảo vệ được những gì. Họ chồng bản đồ các vùng sinh thái, các kiểu rừng tự nhiên, và nơi phân bố của các loài bị đe dọa lên bản đồ 133 khu bảo tồn trên đất liền. Hệ thống các khu bảo tồn hiện nay có tổng diện tích khoảng 24.654 km², tương đương 7,4% diện tích đất liền Việt Nam, thường tập trung ở những vùng núi cao trên 700 m, hẻo lánh và ít dân cư.
Với mỗi đối tượng cần bảo tồn, họ tính xem bao nhiêu phần diện tích hoặc phạm vi phân bố hiện nằm trong khu bảo tồn. Chẳng hạn, nếu một loài có phạm vi phân bố 100 km² nhưng chỉ có 10 km² nằm trong khu bảo tồn, thì mức độ bao phủ đối với loài đó là 10%. Nếu một loài quý hiếm chỉ sống trong một vùng rất hẹp nhưng phần lớn vùng sống của nó lại nằm ngoài khu bảo tồn, thì đó là một khoảng trống đáng lưu ý.
Sau đó, nhóm đem tỷ lệ này so với hai mốc tham chiếu khác nhau về phạm vi phân bố của từng đối tượng đa dạng sinh học. Cụ thể là mốc 17%, tương ứng với Mục tiêu Đa dạng sinh học Aichi 11 trước đây; và mốc 30%, tương ứng với mục tiêu 30×30 của Khung Đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh - Montreal mới đặt ra. Chẳng hạn, một loài có 30% phạm vi phân bố nằm trong khu bảo tồn thì đạt mốc 30%.
Kết quả cho thấy, trung bình các khu bảo tồn hiện nay chỉ bao phủ 10% diện tích của mỗi vùng sinh thái trên cạn, 12% diện tích của mỗi kiểu rừng tự nhiên và 17% phạm vi phân bố của mỗi loài bị đe dọa. Nếu tính theo số lượng loài, chỉ 53 trong số 327 loài được đánh giá, tương đương 16%, có hơn 30% phạm vi phân bố nằm trong khu bảo tồn.
Từ những khoảng trống đó, nhóm nghiên cứu đặt câu hỏi tiếp theo: nếu cần mở rộng hệ thống bảo tồn, dù để tiến tới mục tiêu bao phủ 9% diện tích lãnh thổ Việt Nam đã đặt ra hay đóng góp vào mục tiêu 30×30 của toàn cầu, thì nên chọn những khu vực nào.
Sau đó, nhóm tiếp tục xây dựng Chỉ số Ưu tiên Bảo tồn (CPI), có giá trị từ 0 đến 1. Hiểu đơn giản, CPI càng cao đồng nghĩa với càng khó tìm được một nơi khác để bù lại giá trị đa dạng sinh học đã mất. Đó thường là những nơi có nhiều loài hoặc hệ sinh thái quan trọng, nhưng chúng lại chỉ sinh sống trong một phạm vi hẹp.
83% khu vực quan trọng vẫn chưa được bảo vệ
Kết quả cho thấy còn khoảng 83% các khu vực được xác định có mức độ không thể thay thế cao hiện vẫn nằm ngoài khu bảo tồn.
Và vấn đề trở nên phức tạp hơn khi nhóm chồng bản đồ ưu tiên bảo tồn với bản đồ dữ liệu về Chỉ số Phát triển Con người (HDI). Những nơi có điểm CPI cao nhất lại trùng với nơi có HDI thấp nhất - nghĩa là còn nhiều khó khăn nhất. Và tổng cộng có 92% các khu vực cần ưu tiên nhưng chưa được bảo vệ (có tổng diện tích khoảng 8.840 km²) nằm ở những nơi HDI thấp, người dân còn gặp nhiều khó khăn về thu nhập, giáo dục và y tế, đòi hỏi phải thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, mặc dù nhận thấy rất cần bảo tồn nhưng nhóm tác giả cũng cho rằng, nếu "đóng cửa" đối với những khu vực này mà không chú ý tới điều kiện kinh tế - xã hội địa phương, thì có thể tạo thêm áp lực cho các cộng đồng vốn đã gặp nhiều khó khăn.
Khu bảo tồn đất ngập nước Tiền Hải, Thái Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) năm 2023. Ảnh: Ngọc Thành
Theo nhóm nghiên cứu, khoảng trống bảo tồn hiện nay không chỉ đơn thuần là câu chuyện diện tích cần được bảo vệ mà còn liên quan đến cách quản lý và phân bổ nguồn lực. Ở Việt Nam, trách nhiệm quản lý được phân cấp cho chính quyền địa phương nhưng nguồn lực tài chính và năng lực thực thi không phải lúc nào cũng tương xứng. Do các địa phương còn phải cân đối với mục tiêu phát triển kinh tế, nhiều hoạt động giám sát và bảo tồn vì thế vẫn dựa vào các dự án ngắn hạn do các nhà tài trợ và tổ chức phi chính phủ hỗ trợ.
Một vấn đề khác là tiếng nói của cộng đồng địa phương. Người dân có thể được tham vấn nhưng lại chưa thực sự tham gia vào quá trình ra quyết định và chia sẻ lợi ích. Dữ liệu chi tiết về quyền sử dụng đất, sinh kế hộ gia đình hay tình trạng nghèo ở cấp địa phương cũng còn hạn chế, khiến hoàn cảnh của những cộng đồng sống dựa vào rừng đôi khi chưa được phản ánh đầy đủ trong quy hoạch.
Những bất cập nêu trên góp phần lý giải vì sao phần lớn các khu vực cần ưu tiên bảo tồn vẫn chưa được bảo vệ, cũng như tại sao chúng thường tập trung ở những nơi có mức phát triển thấp.
Đa dạng hóa sinh kế gắn với bảo tồn
Để bảo đảm công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế được quy hoạch cùng nhau, thay vì được xem như hai mục tiêu đối lập, nhóm tác giả đề xuất hướng tiếp cận "bảo tồn công bằng".
Tại những địa điểm này, nhóm nghiên cứu gợi ý một số giải pháp, trước hết là tăng hiệu quả quản lý các khu bảo tồn hiện có thay vì mở rộng bằng cách lập thêm các khu bảo tồn nghiêm ngặt. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa sinh kế thông qua du lịch cộng đồng, trồng cây dược liệu dưới tán rừng, khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ. Ngoài ra, có thể phát triển các hành lang sinh thái và rừng cộng đồng theo mô hình OECM (Các biện pháp bảo tồn hiệu quả khác dựa trên khu vực), cho phép những khu vực không nhất thiết là khu bảo tồn chính thức vẫn được quản lý theo cách mang lại hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học lâu dài.
Nhóm nghiên cứu lưu ý rằng, không có mô hình nào phù hợp cho mọi nơi và các giải pháp cần được thiết kế dựa trên điều kiện cụ thể của từng khu vực. Các nhà hoạch định chính sách cũng cần sử dụng dữ liệu xã hội ngay từ khi xác định các khu vực bảo tồn mới để dự báo trước các tác động tiêu cực và lựa chọn các biện pháp can thiệp ít gây tổn thương nhất cho cộng đồng.
Dù vậy, các mô hình phân tích dữ liệu quy mô lớn không thể thay thế cho việc khảo sát thực địa và tham vấn trực tiếp với người dân. Theo nhóm nghiên cứu, việc lắng nghe và tôn trọng nhu cầu, tri thức và quyền tham gia của cộng đồng địa phương mới là điều kiện để các chính sách bảo tồn vừa công bằng vừa hiệu quả.
Những điểm nóng vừa quan trọng về đa dạng sinh học vừa có nhu cầu sinh kế cao tập trung nhiều nhất ở miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên.
Cụ thể, cụm thứ nhất nằm ở cảnh quan xung quanh Pù Hu và Xuân Sơn. Cụm thứ hai bao gồm cảnh quan Phong Nha - Kẻ Bàng - Bắc Hướng Hóa - Phong Điền. Cụm thứ ba gồm cảnh quan bao quanh Ngọc Linh - Chư Mom Ray - Kon Ka Kinh. Cụm thứ tư là cảnh quan xung quanh Yok Đôn, Ea Sô, Cát Tiên, Bù Gia Mập, Nam Ka, Tà Đùng và Bidoup - Núi Bà.
Mỹ Hạnh tổng hợp
---
Tài liệu tham khảo:
Khuu, D.T., Oldekop, J.A., Hanson, J.O. et al. Socially informed conservation priorities in Vietnam reveal major overlaps between biodiversity protection and human needs. Communications Earth & Environment (2026). https://www.nature.com/articles/s43247-026-03686-7