Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện. Ảnh: NVCC, thiết kế: Mỹ Hạnh
Tìm chỗ đứng trong nền kiến trúc do người Pháp chi phối
Nguyễn Cao Luyện sinh năm 1907 tại Nam Định, trong một gia đình nho học và được học hành khá đầy đủ, từ văn hóa đến nghệ thuật dù gia đình không khá giả. Khi còn học Thành Chung, ông từng bị đuổi học vì tham gia bãi khóa trong phong trào để tang Phan Chu Trinh năm 1926.
Sau đó, ông lên Hà Nội học Ban Kiến trúc của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, thuộc một trong những khóa kiến trúc sư người Việt đầu tiên của trường. Đây là một thời điểm đặc biệt: kiến trúc hiện đại phương Tây bắt đầu hiện diện ngày càng rõ tại Đông Dương, trong khi những kiến trúc sư bản xứ đầu tiên cũng đang tìm kiếm vị trí của mình trong một nền kiến trúc phần lớn vẫn do người Pháp chi phối.
Tốt nghiệp với kết quả xuất sắc, Nguyễn Cao Luyện nhận học bổng sang Pháp tu nghiệp vào khoảng những năm 1933 - 1934. Ông từng làm việc trong các xưởng kiến trúc lớn tại Paris, đặc biệt là xưởng của Auguste Perret - một trong những kiến trúc sư tiên phong của kiến trúc bê tông cốt thép Pháp đầu thế kỷ XX. Công việc tại xưởng kiến trúc kéo dài từ sáng sớm tới tối, tiền công chỉ vừa đủ trang trải tiền nhà và sinh hoạt. Trong khi ấy, người vợ ở quê nhà Nam Định một mình nuôi hai con nhỏ bằng nghề làm bánh của gia đình. Sau khoảng một năm tu nghiệp, Nguyễn Cao Luyện trở về Việt Nam. Thay vì tìm một vị trí ổn định trong bộ máy thuộc địa, ông lựa chọn con đường khó hơn: tự hành nghề.
Từ hiện đại đến truyền thống
Năm 1935, Nguyễn Cao Luyện mở văn phòng kiến trúc tư tại Hà Nội, ban đầu ở phố Hàng Cót, sau chuyển về Tràng Thi. Cuối năm ấy, người bạn học Hoàng Như Tiếp từ Huế ra Hà Nội cùng cộng tác, hình thành văn phòng Luyện & Tiếp; vài năm sau có thêm Nguyễn Gia Đức. Văn phòng Luyện - Tiếp - Đức dần trở thành một trong những văn phòng kiến trúc của người Việt nổi tiếng ở Bắc Kỳ trước năm 1945. Ngay từ những năm đầu hành nghề, Nguyễn Cao Luyện đã cho thấy một cá tính nghề nghiệp rõ rệt. Cuối năm 1934, ông nhận thiết kế Đài tưởng niệm Alexandre de Rhodes. Thay vì sao chép một hình thức kiến trúc cổ, ông đưa ra một thiết kế có cấu trúc gần với obelisk phương Tây (dạng cột cao, thon, vuốt nhọn về phía đỉnh) nhưng sử dụng những yếu tố gợi trụ biểu truyền thống. Khi phương án bị yêu cầu sửa theo hướng một nhà bia mang dáng dấp "An Nam" quen thuộc hơn, ông nhất quyết không chấp nhận bởi cho rằng hình thức ấy vốn thuộc về những không gian thờ phụng của người Việt. Dự án sau đó bị đình lại và cuối cùng giao cho một kiến trúc sư Pháp khác thực hiện. Câu chuyện nhỏ ấy phần nào cho thấy thái độ của Nguyễn Cao Luyện trước vấn đề bản sắc. Với ông, "dân tộc" không đồng nghĩa với việc sao chép mái cong, đầu đao hay những mô-típ cổ. Kiến trúc cần tìm thấy tinh thần của truyền thống nhưng đồng thời phải trả lời những yêu cầu của đời sống hiện đại.
Những biệt thự do văn phòng Luyện - Tiếp - Đức thiết kế trong thập niên 1930 và đầu 1940 thể hiện khá rõ tư tưởng đó. Biệt thự của bác sĩ Nguyễn Văn Luyện tại 65 Lý Thường Kiệt - nay là Đại sứ quán Cuba - là một trong số ít công trình còn được bảo tồn tương đối tốt. Ngoài ra còn có biệt thự của nha sĩ Nghiêm Mỹ ở 77 Nguyễn Thái Học, các ngôi nhà tại Phạm Đình Hổ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Chú, Đội Cấn... Đó là một thứ kiến trúc hiện đại nhưng được điều chỉnh rất cụ thể cho khí hậu miền Bắc: hiên, ô văng, sê-nô (máng thu và dẫn nước mưa đặt ở mái hoặc ban công), cửa hai lớp chớp - kính, mái hai lớp có lỗ thông hơi. Đáng tiếc, phần lớn những công trình ấy đã bị cải tạo mạnh hoặc phá bỏ trước khi giá trị của kiến trúc hiện đại thời kỳ đầu được xã hội quan tâm đúng mức.
Biệt thự số 65 Lý Thường Kiệt. Ảnh: Vũ Hiệp
"Yêu nghề nhưng hơn hết là yêu nước"
Trước Cách mạng, Nguyễn Cao Luyện đã có một cuộc sống mà nhiều người có thể xem là thành đạt: một văn phòng kiến trúc nổi tiếng, nhà ở ven Hồ Tây, xe hơi và vị trí nghề nghiệp đáng kể. Nhưng khi kháng chiến bùng nổ, ông bỏ lại những điều đó để cùng gia đình lên chiến khu. Người con trai Nguyễn Trường Luyện sau này nhớ về cha mình như một người "yêu nghề nhưng hơn hết là yêu nước". Việc lựa chọn kháng chiến không phải một quyết định bất ngờ nếu nhìn lại cả con đường trước đó của Nguyễn Cao Luyện: từ cuộc bãi khóa thời Thành Chung, việc chủ động mở văn phòng của người Việt, những hoạt động cải cách xã hội cho đến mong muốn xây dựng một nền kiến trúc tự chủ.
Năm 1948, Nguyễn Cao Luyện là một trong những thành viên sáng lập Hội Kiến trúc sư Việt Nam tại Thản Sơn. Năm 1949, ông thiết kế văn phòng Bộ Tư pháp tại Thái Nguyên. Một năm sau, cùng Nguyễn Văn Ninh, ông phụ trách Vụ Kiến trúc thuộc Bộ Giao thông Công chính. Giữa điều kiện thiếu thốn của Việt Bắc, ông vẫn nghiên cứu những loại hình kiến trúc mới phục vụ cuộc kháng chiến: chòi phát thanh, nhà triển lãm, trụ sở ủy ban kháng chiến... Đồng thời, từ kinh nghiệm từng học và giảng dạy tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Nguyễn Cao Luyện tổ chức cho những sinh viên kiến trúc phải bỏ dở chương trình vì chiến tranh tiếp tục học tập và làm đồ án tốt nghiệp để được công nhận kiến trúc sư.
Đặt nền móng cho một nền kiến trúc mới
Năm 1958, khi Bộ Kiến trúc được thành lập, ông được giao làm Thứ trưởng phụ trách thiết kế và quy hoạch, một vị trí ông đảm nhiệm cho đến khi nghỉ hưu năm 1972. Năm 1962, trên cơ sở Cục Thiết kế dân dụng, ông xúc tiến việc thành lập Viện Thiết kế Kiến trúc trực thuộc Bộ, tiền thân của Tổng công ty Tư vấn Xây dựng Việt Nam (VNCC) sau này.
Một việc mà Nguyễn Cao Luyện đặc biệt quan tâm là đào tạo kiến trúc sư. Năm 1961, sau nhiều năm chuẩn bị, lớp đào tạo kiến trúc sư của Bộ Kiến trúc được mở. Dù đang giữ chức Thứ trưởng, ông vẫn trực tiếp phụ trách lớp, mời nhiều kiến trúc sư và họa sĩ từng được đào tạo tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tham gia giảng dạy. Hoạt động đào tạo này được duy trì để rồi đến năm 1969, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội được thành lập.
Làm công tác quản lý khiến ông không còn nhiều thời gian thiết kế như trước, nhưng những công trình mà ông tham gia trong giai đoạn này lại có vị trí đặc biệt trong lịch sử kiến trúc Việt Nam. Cùng KTS Trần Hữu Tiềm, ông thiết kế Hội trường Ba Đình. Công trình mang tính hình học chặt chẽ, tỷ lệ trang trọng nhưng không nặng nề. Dấu ấn của Auguste Perret có thể được nhận thấy trong cách xử lý hình khối và tỷ lệ của công trình, đồng thời kiến trúc vẫn tìm kiếm một sự giản dị phù hợp với tinh thần của một quốc gia vừa giành được độc lập. Ở Trụ sở Ủy ban hành chính tỉnh Nghĩa Lộ, một hướng tìm tòi khác xuất hiện: khai thác những đặc trưng của ngôi nhà dân gian người Thái đen nhưng chuyển chúng sang một ngôn ngữ kiến trúc mới.
Hội trường Ba Đình trước đây. Ảnh: CC BY-SA 3.0
Một thử nghiệm vượt khuôn khổ kiến trúc đương thời
Có lẽ công trình cho thấy rõ nhất cá tính sáng tạo của Nguyễn Cao Luyện lại xuất hiện khi ông đã ở vào tuổi gần bảy mươi và không còn giữ bất kỳ chức vụ quản lý nào.
Khoảng năm 1976–1977, Nguyễn Cao Luyện được mời thiết kế Bảo tàng Cổ vật Nam Định trong quần thể công viên văn hóa Tức Mạc. Khi ấy, kiến trúc Việt Nam đang ở cao trào của một giai đoạn có thể gọi là kiến trúc Hiện đại Xã hội chủ nghĩa: những công trình công cộng thường được tổ chức bằng hệ lưới kết cấu rõ ràng, hình khối vuông vức, ngôn ngữ mô-đun và tinh thần duy lý, phù hợp với điều kiện xây dựng công nghiệp hóa, tiêu chuẩn hóa và nền kinh tế còn nhiều thiếu thốn.
Bảo tàng Cổ vật Nam Định gần như đứng ngoài dòng chảy ấy. Công trình nằm giữa hồ, không hiện ra như một khối nhà theo nghĩa thông thường mà giống một vật thể điêu khắc khổng lồ nổi lên từ cảnh quan. Những bề mặt bê tông cong, xiên, uốn lượn liên tục tạo nên cảm giác như một hình thể tự nhiên – một quả núi, một sinh vật hay một cấu trúc địa chất – hơn là một tòa nhà được tạo nên từ những tầng và nhịp đều đặn. Để diễn giải hình thức công trình với lãnh đạo địa phương, Nguyễn Cao Luyện dùng hình tượng "sư tử vồ mồi": biểu tượng cho sức mạnh của quân dân đã bắn rơi máy bay Mỹ tại địa điểm này; nhưng khi chiến tranh kết thúc, con sư tử lại trở thành hình thể ôm lấy bảo tàng như để che chở, gìn giữ những di vật của quá khứ.
Một góc Bảo tàng Cổ vật Nam Định.
Ở đây, kiến trúc gần với nghệ thuật tạo hình hơn với logic thông thường của một công trình hành chính hay văn hóa thời Bao cấp. Đặt trong bối cảnh kiến trúc Việt Nam cuối thập niên 1970, công trình gây ngạc nhiên chính bởi sự "lệch tông" ấy. Trong khi nhiều công trình cùng thời đề cao kết cấu rõ ràng, nhịp điệu mô-đun và những mặt đứng được tổ chức theo phương ngang - đứng mạch lạc, Bảo tàng Cổ vật Nam Định lại dường như cố tình từ chối đường thẳng. Nó phát triển bằng những đường cong, mặt xiên, các hình thể bất định và cảm giác vận động mạnh.
Công trình để lại liên tưởng đến Antoni Gaudí nổi tiếng với những công trình có hình khối hữu cơ, đường cong và màu sắc giàu tính điêu khắc, nhưng không phải theo nghĩa Nguyễn Cao Luyện trực tiếp chịu ảnh hưởng hay mô phỏng Gaudí, mà ở thái độ đối với hình khối kiến trúc: xem tòa nhà như một cơ thể có khả năng sinh trưởng, hòa nhập với thiên nhiên và mang sức biểu cảm của một tác phẩm điêu khắc. Điều đặc biệt là người tạo ra sự phá cách ấy không phải một kiến trúc sư trẻ đang muốn chống lại thế hệ trước. Nguyễn Cao Luyện thuộc thế hệ kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên, và ở tuổi thất thập tưởng như không còn giàu sáng tạo, chính ông lại tạo ra một trong những công trình có hình thức táo bạo bậc nhất.
Tuy nhiên, không có nghĩa Nguyễn Cao Luyện đoạn tuyệt với truyền thống. Nếu nhìn rộng ra toàn bộ tổ hợp, đằng sau lớp vỏ có phần biểu hiện mạnh vẫn là một hệ thống không gian quen thuộc của văn hóa Việt Nam: mặt nước, con mương, cầu đá, chòi nghỉ, mái đình, những khoảng chuyển tiếp giữa trong và ngoài. Đây cũng chính là điều Nguyễn Cao Luyện đã theo đuổi từ thời Luyện - Tiếp - Đức: truyền thống không nằm ở việc gắn một mái cong lên một công trình hiện đại, mà nằm sâu hơn trong cách con người cảm nhận không gian.
Hiện nay toàn bộ tổ hợp kiến trúc của Bảo tàng Cổ Vật Nam Định vắng lặng, gần như bỏ hoang. Ảnh: Vũ Hiệp
Quá trình xây dựng Bảo tàng cũng là một thử thách kỹ thuật đáng kể. Hình dáng vỏ bê tông cốt thép bất định khiến việc tính toán kết cấu khó hơn nhiều so với những công trình "vuông thành sắc cạnh" phổ biến thời đó. Kỹ sư Nguyễn Trường Luyện, khi ấy giảng dạy tại Khoa Công trình quân sự - Học viện Kỹ thuật quân sự, đã hỗ trợ cha kiểm tra kết cấu bằng máy tính; các đơn vị khác của Học viện hỗ trợ phần nền móng và kỹ thuật thi công.
Sự khác biệt về ngôn ngữ tạo hình, tư duy không gian, kỹ thuật kết cấu và cách ứng xử với truyền thống đã làm cho Bảo tàng Cổ vật Nam Định trở thành một trường hợp đặc biệt của kiến trúc Việt Nam thế kỷ XX. Đây không chỉ là một tác phẩm hiếm hoi còn lại của thế hệ kiến trúc sư hiện đại đầu tiên, mà còn là minh chứng cho tinh thần thử nghiệm mạnh mẽ, vượt ra ngoài những khuôn mẫu phổ biến của kiến trúc thời Bao cấp.
Thế nhưng, trái ngược với giá trị ấy, công trình hiện đang trong tình trạng xuống cấp, bị bỏ bê sau khi hiện vật trưng bày được chuyển đi nơi khác, cảnh quan vắng lặng, nhiều không gian gần như mất hẳn sức sống, khiến toàn bộ tổ hợp mang dáng dấp của một ngôi nhà hoang. Nếu không sớm được khảo sát, lập hồ sơ, bảo vệ và tìm kiếm một phương án tái sử dụng thích hợp, một di sản kiến trúc đặc biệt của thế kỷ XX có nguy cơ tiếp tục mai một ngay trong sự thờ ơ của hiện tại.