Khi Trăng nơi đáy giếng hoàn thành sau nhiều năm trầy trật, Nguyễn Vinh Sơn có một cách khá kỳ lạ để nói về việc mình có hài lòng với bộ phim hay không. Ông cười tủm tỉm, phim nào dẫn vợ đi xem mà bà chê dở thì phim ấy thường "được". Lần này, ông may mắn vì đã được vợ chê. Đó là kiểu hài hước dễ nhận ra ở Nguyễn Vinh Sơn, kiểu hài nhẹ, tỉnh bơ, đôi khi đưa mình vào thế bị trêu chọc, không cố làm mình thành trung tâm.
Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn (1953-2026). Ảnh: Gia đình cung cấp
Có lần được khán giả bắt gặp khi đi ngoài đường, ông cười bảo người ta lại nhầm mình với nghệ sĩ Thành Hội. Một đạo diễn từng giành nhiều giải thưởng, làm ra Đất phương Nam - bộ phim đi vào ký ức nhiều thế hệ - dường như không có nhu cầu trình diễn hình ảnh của một đạo diễn được nể trọng. Điều ông tìm kiếm trong điện ảnh cũng gần với cách ông hiện diện ngoài đời: những thứ sâu sắc hiện ra trong vẻ giản dị. Và ông thích nhìn hơn được nhìn.
Có lẽ chính thói quen thích nhìn ấy khiến Nguyễn Vinh Sơn không phải người làm phim theo nhịp độ thông thường. Trong hơn nửa thế kỷ gắn bó với điện ảnh, số phim thực sự làm nên tên tuổi ông chỉ có vài ba bộ: Tuổi thơ dữ dội, Đất phương Nam, Trăng nơi đáy giếng. Ở giữa chúng là những khoảng nghỉ dài, khiến ông có vẻ như một người luôn đến chậm. Nhưng cái chậm ấy không phải sự ngập ngừng. Nó là phương pháp làm nghề của ông.
Đợi cho một chi tiết có đời sống
Nguyễn Vinh Sơn không sinh trưởng trong một đời sống có nhiều điều kiện để thong thả. Ông là anh cả trong một gia đình đông con. Cha mẹ mất sớm, ông từng bán vé số, bán mía, đẩy xe ba gác, bán bánh mì, chụp hình để kiếm sống và nuôi các em. Ba mươi tuổi, sau nhiều năm làm phó quay cho Huy Thành, Hồng Sến và Việt Linh, ông mới bước vào lớp đạo diễn của Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội.
Người ta rất dễ nối kết những năm tháng ấy thành một câu chuyện vượt khó quen thuộc: cậu thanh niên nghèo bươn chải rồi trở thành đạo diễn nổi tiếng. Nhưng cách nhìn đó quá giản đơn. Những năm tháng mưu sinh đặt Nguyễn Vinh Sơn gần với cái thường nhật, dung dị của đời sống, điều về sau ông không ngừng kể trên màn ảnh.
Một cảnh trong phim Tuổi thơ dữ dội. Nguồn: VA Phim lưu trữ
Ngay từ Tuổi thơ dữ dội, bộ phim đầu tiên đem lại cho ông giải Đạo diễn xuất sắc tại Liên hoan phim Việt Nam năm 1990, Nguyễn Vinh Sơn đã cho thấy mình không chỉ quan tâm đến việc kể lại mặt âm bản của lịch sử. Trong một bộ phim về chiến tranh, thứ ông nhớ với sự tâm đắc lại là hình ảnh những giọt máu của Mừng - cậu bé xuất thân nghèo khó, tham gia Đội thiếu niên trinh sát và trưởng thành giữa thời loạn - rơi xuống lá xanh. Đằng sau chi tiết nhỏ ấy là cái chết của một đứa trẻ giữa chiến tranh, nhưng Nguyễn Vinh Sơn không cần phóng đại sự hy sinh ấy bằng những hình ảnh bi tráng. Máu đỏ trên lá xanh đã đủ đặt sự sống non trẻ cạnh cái chết, tuổi thơ cạnh bạo lực của lịch sử. Đó cũng là cách ông thường nhìn đời sống trên màn ảnh: một biến cố lớn lao đôi khi cần được giữ lại bằng một chi tiết đời thường để người xem cảm thấy bão táp lịch sử quét qua thân phận con người.
Tám năm sau, Đất phương Nam đưa cách nhìn ấy tới một thế giới rộng hơn. Phim có chiến tranh, áp bức, lưu lạc và những chuyển động của xã hội Nam kỳ đầu thế kỷ XX, nhưng ký ức mà nó để lại thường bám vào những con người và cảnh huống cụ thể hơn. Đó là ông Tám Luông cất giọng ngâm Lục Vân Tiên trước khi tìm đến cái chết, mang trong tiếng ngâm cả nỗi bi ai lẫn khí chất ngang tàng của một người mở cõi. Là thằng Cò, trong lúc trò chuyện với An, bất chợt nhớ người mẹ đã bị lính Pháp bắn chết trên đường đi chợ. Là cả gia đình Mười Chức ở Đồng Nọc Nạng, quyết dùng mạng sống để giữ lấy từng thúng lúa trên chính mảnh đất mình khai hoang. Và còn là Phèn, chú chó mang lựu đạn bơi qua sông, lao giữa tiếng bom để cứu Võ Tòng đang đơn thương độc mã với giặc Pháp, rồi gục xuống vì thương tích. Lịch sử vẫn luôn có mặt trong Đất phương Nam, nhưng Nguyễn Vinh Sơn hiếm khi chọn thể hiện nó bằng những thứ lớn lao kỳ vĩ trên khuôn hình. Ông để người xem chạm vào một thời đại qua giọng nói, tính khí, một bữa ăn, tức qua những gì gần nhất với trải nghiệm sống của con người.
Bé An, nhân vật đi tìm cha trong phim Đất phương Nam. Ảnh: Chụp màn hình
Thế giới Nam bộ ấy không được dựng nên từ trí tưởng tượng của riêng ông. Từ "Đất rừng phương Nam" của Đoàn Giỏi, Nguyễn Vinh Sơn tìm đến Sơn Nam, người gần như đã dành cả đời đi, đọc và viết về miền đất này. Những cuộc trao đổi ấy đưa vào phim thêm nhiều lớp đời sống mà nguyên tác không có hoặc chỉ gợi ra: buổi đầu của cải lương, vụ Đồng Nọc Nạng, ông đạo Tưởng, bác Ba Phi và cả những phong tục, giọng điệu, cách ăn ở của cư dân phương Nam. Nguyễn Vinh Sơn còn đẩy thời điểm câu chuyện từ khoảng năm 1945 lùi về những thập niên 1920-1930, để cuộc lưu lạc của An đi qua một không gian lịch sử rộng hơn.
Đó cũng là một kiểu làm nghề của Nguyễn Vinh Sơn. Ông biết Đoàn Giỏi có một Nam bộ, Sơn Nam có một Nam bộ khác, rồi tìm cách tổ chức những lớp ký ức ấy thành một thế giới mà người xem tin rằng đã có một lục tỉnh Nam kỳ từng tồn tại như vậy. Nghề đạo diễn, với ông, dường như không phải người sở hữu mọi thứ mà là người biết mình nên lắng nghe ai.
Sự kỹ lưỡng ở Nguyễn Vinh Sơn đôi khi gần với tính khí cố chấp, gia trưởng thâm căn của phần lớn cánh mày râu.
Với Trăng nơi đáy giếng (2008), khi kinh phí ban đầu không cho phép làm điều ông muốn, Nguyễn Vinh Sơn trả phim. Sau đó, ông tự đi Pháp rồi sang Bỉ tìm nguồn tài trợ. Mất thêm hai năm các quỹ điện ảnh mới được thu xếp. Đến khi có tiền, một khó khăn tưởng nhỏ hơn lại khiến ông không chịu thỏa hiệp: không có sẵn căn nhà nào đúng với Huế mà ông muốn đưa lên màn ảnh. Nguyễn Vinh Sơn không cần một ngôi nhà chỉ đủ để khán giả nhận ra "đây là Huế". Ông muốn một không gian mà nhân vật Hạnh có thể thực sự sống trong đó, để cách mở cửa, đi qua sân, chăm sóc chồng hay khép cửa nhà mỗi tối đều trở thành một phần của đời sống nhân vật. Vì vậy, ông thuê đất, dựng một nhà rường rồi thuê người chăm sóc khu vườn hơn một năm.
Một cảnh trong phim Trăng nơi đáy giếng. Ảnh: Đoàn làm phim
Sự cầu kỳ ấy có thể được nhìn thấy trong từng chi tiết tưởng rất nhỏ. Trong hình dung của Nguyễn Vinh Sơn, một căn nhà Huế mà thiếu hàng chè tàu thì "không ra Huế". Với người khác, đó có thể chỉ là một hạng mục mỹ thuật. Với ông, hàng rào ấy là ranh giới giữa một bối cảnh được dựng để quay và một nơi người xem có thể tin rằng đã có con người sống ở đó từ lâu.
Từ Tuổi thơ dữ dội đến Trăng nơi đáy giếng không chỉ là sự khác biệt về đề tài và hình thức mà còn là 20 năm hưng phế của một sự nghiệp sáng tạo. Nhưng cái chậm của Nguyễn Vinh Sơn vẫn luôn có cùng một nguyên tắc. Ông không vội quay cho đến khi một chi tiết không chỉ làm nhiệm vụ minh họa mà bắt đầu có đời sống của riêng nó.
Sự dịu dàng của một người khắc kỷ
Những người từng làm việc cùng Nguyễn Vinh Sơn khá thống nhất khi nhớ về ông: từ tốn, hiền, ít lớn tiếng, hay cười. Cát Phượng nhớ cách ông thị phạm nhẹ nhàng trong Đất phương Nam. Hồng Ánh nhớ một người "kỹ lưỡng, khiêm nhường, giản dị và chưa bao giờ dễ dãi với chính mình". Nhưng hiền lành không đồng nghĩa với dễ tính.
Ông có thể mềm với người nhưng rất cứng với tác phẩm. Không đủ tiền để làm đúng ý mình thì trả phim. Không có bối cảnh phù hợp thì dựng một bối cảnh mới. Khi chọn Hồng Ánh cho vai Hạnh trong Trăng nơi đáy giếng, Nguyễn Vinh Sơn cũng đứng trước một sự đánh đổi. Ông muốn bộ phim giữ được không khí Huế đến từng hơi thở, trong khi Hồng Ánh là người Sài Gòn và không nói giọng Huế một cách tự nhiên. Nhưng ông vẫn chọn chị, bởi điều ông cần trước hết là một diễn viên có khả năng đi đến tận cùng thế giới nội tâm của Hạnh. Chất Huế có thể được kiến tạo bằng nhiều lớp - bối cảnh, ngôn ngữ, phục trang, nhịp sống - còn một diễn xuất đủ sức giữ cả bộ phim thì khó thay thế hơn. Vì vậy sự kỹ tính của Nguyễn Vinh Sơn không phải đòi mọi thứ "đúng" một cách máy móc. Ông cân nhắc chi tiết nào bắt buộc phải giữ và chi tiết nào có thể tìm cách giải quyết.
Ngay trong gia đình, ông không để tình thân thay thế tiêu chuẩn nghề nghiệp. Em trai ông, Trinh Hoan, là một nhà quay phim có tiếng. Nhưng Nguyễn Vinh Sơn từng nói, nếu Trinh Hoan không đủ giỏi, ông sẽ không thuê chỉ vì đó là em mình.
Nhưng Nguyễn Vinh Sơn không biến sự khó tính thành huyền thoại về quyền lực đạo diễn. Năm 2023, khi Đất rừng phương Nam được đạo diễn Nguyễn Quang Dũng cùng Trấn Thành làm lại cho màn ảnh rộng, Nguyễn Vinh Sơn tham gia như một cố vấn, trao tư liệu và kinh nghiệm cho những người kể lại nó theo cách khác.
Ngày 22/10, Nguyễn Vinh Sơn qua đời ở tuổi 73. Sau sự ra đi của một đạo diễn được yêu quý và nể trọng, đồng nghiệp và bạn bè dành cho ông những ái ngữ vừa vặn cho việc tưởng nhớ: đạo diễn Đất phương Nam, Nghệ sĩ Ưu tú, người thầy thân thương, nhà làm phim kỹ tính. Những danh từ ấy đều đúng, nhưng giống điều ông từng tìm kiếm trong phim, con người đích thực của ông thường nằm ở những chi tiết nhỏ hơn, như nụ cười tủm tỉm khi nghe người vợ "chê" bộ phim mới ra mắt của mình.
Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn từng giành một số giải thưởng điện ảnh quan trọng nhất của Việt Nam. Tuổi thơ dữ dội mang về cho ông Bông Sen Vàng tại Liên hoan Phim Việt Nam năm 1993. Với Đất phương Nam, ông giành giải A của Hội Điện ảnh năm 1997. Đây cũng là phim truyền hình Việt Nam đầu tiên được xuất sang Mỹ. Trăng nơi đáy giếng của ông nhận giải Cánh Diều Bạc năm 2008 và Bông Sen Bạc tại Liên hoan Phim Việt Nam năm 2009.
Tài liệu tham khảo:
Thiên Bình. Tư liệu quý về cố đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn. HTV, 23/10/2026. https://voh.com.vn/van-hoa/tu-lieu-quy-ve-co-dao-dien-nguyen-vinh-son-675319.html
Toàn Nguyễn. Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn: 30 năm, 3 phim, 3 mùi vị. Công an Nhân dân, 20/11/2008. https://cand.vn/dao-dien-nguyen-vinh-son-30-nam-3-phim-3-mui-vi-post312037.html
Trần Nhã Thụy. Mê hoặc bằng những vẻ đẹp lặng thầm... Tuổi Trẻ Online, 11/11/2007. https://tuoitre.vn/me-hoac-bang-nhung-ve-dep-lang-tham-228731.htm