Từ hàng triệu trang tài liệu lưu trữ của tình báo Mỹ, nhóm dự án thuộc Đại học Texas Tech đã tìm cách hỗ trợ xác minh thông tin, tìm kiếm mộ phần, và góp phần phục dựng ký ức của những người lính Việt Nam.
"Em Mùi thân mến!
Từ hôm anh ra đi vì bận quá nên không viết thư cho em được, nay anh thanh thả viết thư cho em biết hiện nay anh vẫn khỏe, công tác tốt. [...]
Bây giờ anh công tác xa, chị Phượng đi lấy chồng, gia đình tin cậy vào mình em thôi, cho nên em phải cố gắng giúp đỡ, nghe lời thầy u, chăm sóc chị Thót để thầy u và anh chị yên tâm công tác, đánh đuổi đế quốc ra khỏi nước, để Nam Bắc thống nhất, gia đình ta lại sum họp như một."
Đó là những dòng thư tay của chiến sĩ Hoàng Hữu Ái gửi em gái vào mùa hè năm 1969 nhưng chưa được chuyển đến gia đình vì bị quân đội Mỹ thu giữ trong một trận đánh. Hơn nửa thế kỷ sau, bức thư ấy vẫn nằm im lìm trong kho tư liệu CDEC của Đại học Công nghệ Texas (Mỹ) cho đến khi được nhóm nghiên cứu Dự án Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh (TTU-VWAI) công bố.

CDEC là hệ thống lưu trữ tình báo do quân đội Mỹ lập ra trong chiến tranh tại Việt Nam, chuyên thu thập tài liệu từ nhiều nguồn trên chiến trường như ba lô, hầm trú ẩn hay thi thể quân nhân. Mỗi tài liệu đều được ghi chú cẩn thận ngày tháng, tọa độ thu giữ và lưu trên vi phim. Sau năm 1972, kho dữ liệu này được đưa về Mỹ giải mật, nay đã được Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ Sam Johnson, Đại học Texas Tech (Mỹ) số hóa. Đây cũng là đơn vị từng lưu giữ và trao trả cuốn nhật ký của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm cách đây 20 năm. Hồ sơ của ông Hoàng Hữu Ái chỉ là một mảnh ghép trong khối dữ liệu khổng lồ gồm 260.000 hồ sơ (tương đương 2,7 triệu trang tài liệu) của bộ đội Việt Nam nằm lại tại đây.
Nhìn những trang tài liệu ấy, PGS. TS Alex-Thái Đình Võ, đồng chủ nhiệm dự án, tự hỏi: "Hơn 50 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, vẫn còn những gia đình không biết chồng, cha hoặc con mình đang nằm lại ở đâu. Vẫn có những hài cốt liệt sĩ chưa xác định được danh tính để đưa trở về với gia đình. Những trang tài liệu này có thể giúp gì cho họ?"
Suốt nhiều thập kỷ, hành trình tìm kiếm hài cốt liệt sĩ tại Việt Nam dù có nhiều nỗ lực nhưng lắm khi tựa "mò kim đáy bể" do địa hình đã thay đổi, nhiều nhân chứng không còn sống. Giữa những bế tắc ấy, kho dữ liệu CDEC của quân đội Mỹ có thể là nguồn thông tin giúp hé lộ tọa độ chôn cất, thu hẹp danh sách thân nhân để giám định ADN, cũng như giúp chuyển giao ký ức người lính trở về với gia đình họ. Những thông tin được trao đổi giữa hai đất nước có thể mở ra những hướng đi rõ ràng hơn cho hành trình khắc phục hậu quả và khép lại nỗi đau do chiến tranh để lại.
Dự án đã ra đời như thế, từ cuối năm 2025, do Chính phủ Mỹ khởi xướng và tài trợ. Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ Sam Johnson và Viện Hòa bình & Xung đột thuộc Đại học Công nghệ Texas Tech chủ trì nghiên cứu, với mong muốn biến kho tài liệu CDEC thành đầu mối nhân đạo phục vụ tìm người, xác minh danh tính và trả ký ức về cho gia đình.
Dù vậy, CDEC không có sẵn câu trả lời. Mọi dữ kiện đều rải rác qua những tờ báo cáo, bằng khen hay thư từ không còn nguyên vẹn. Làm thế nào để từ những mảnh vỡ thời đạn bom, các thành viên dự án phác hóa lại được trọn vẹn một dáng hình và "nhớ mặt đặt tên" những người "đã làm ra Đất Nước"*?
Lần tìm từng tọa độ
Theo PGS Alex-Thái, Dự án tham gia hai mắt xích đầu và cuối trong quy trình tìm kiếm hài cốt liệt sĩ bao gồm bốn công đoạn: nghiên cứu tư liệu để khoanh vùng, xác minh thực địa, khai quật, và giám định danh tính. Ở bước đầu, nhóm giải mã hồ sơ CDEC để cung cấp tọa độ, định hướng khu vực tìm kiếm. Khi hài cốt được quy tập, nếu có vật chứng hoặc ký hiệu đi kèm, nhóm sẽ tiếp tục nghiên cứu bối cảnh trận đánh để trích xuất danh sách số quân nhân có mặt tại đó.
Mỗi hồ sơ CDEC thường gồm hai lớp tài liệu. Lớp thứ nhất là phần tóm tắt do quân đội Mỹ lập khi tiếp nhận tài liệu trong chiến tranh, có thể ghi ngày tháng, địa điểm, tọa độ thu giữ và đôi khi cả hoàn cảnh tài liệu được phát hiện. Lớp thứ hai là những ảnh chụp hiện vật thu được trên chiến trường như thư từ, nhật ký, giấy tờ cá nhân, danh sách quân số, danh sách thương vong, hồ sơ đơn vị hoặc sơ đồ chỉ dẫn liên quan đến nơi chôn cất.
"Người làm nghiên cứu không chỉ dịch hoặc chép lại nội dung, họ phải bối cảnh hóa tài liệu đó, chẳng hạn như khớp nối toạ độ cũ với bản đồ ngày nay, giải mã mật danh thành phiên hiệu đơn vị", Luật sư Tạ Thu Phong - Trưởng nhóm nghiên cứu giải thích. Báo cáo cuối cùng, theo anh, phải giúp người đọc hiểu "hồ sơ được thu giữ trong hoàn cảnh nào, ở đâu, của ai và hồ sơ đó chỉ dẫn điều gì".
Đó là lý do hồ sơ được phân loại thành ba nhóm chính, mỗi nhóm ứng với một phương pháp phân tích nghiên cứu riêng biệt.
Nhóm đầu tiên là hồ sơ kỷ vật. Đây là các hồ sơ chụp hiện vật thu giữ gắn với đời sống sinh hoạt, chiến đấu của cá nhân người lính như thư tay, nhật ký, bằng khen, sổ ghi chép, đôi khi là các vần thơ, bản nhạc, hình vẽ . Bằng cách chắp nối các thông tin, chuyên viên nghiên cứu phải xác định được tên tuổi, quê quán, đơn vị chiến đấu, đồng thời phục dựng lại hành trình chiến trường của người lính. "Chúng ta phải cố gắng phục dựng lại toàn bộ cuộc đời quân ngũ của người chiến sĩ thông qua hồ sơ," anh Phong nói. Đích đến của quá trình này là tìm kiếm thân nhân và trao lại những bản sao kỷ vật và hồ sơ chi tiết phục dựng cuộc đời quân ngũ cho gia đình người lính.
Nhóm thứ hai, phức tạp hơn, là hồ sơ thương vong (như danh sách hy sinh, bị thương hoặc mất tích, thậm chí sơ đồ chôn cất). Nhóm phải xây dựng các trường dữ liệu về họ tên, đơn vị, quê quán, thân nhân và hoàn cảnh mất tích hoặc hy sinh của từng chiến sĩ. Mục tiêu là đưa ra hướng tìm kiếm làm rõ vị trí chôn cất, hoàn cảnh hy sinh và phục dựng danh tính cho những người chưa được ghi nhận đầy đủ trong hệ thống quản lý chính sách.
Cuối cùng là hồ sơ hỗn hợp, chứa đựng những tài liệu mang cả kỷ vật lẫn thông tin thương vong. Khi đó, nhóm phải tách từng phần và xử lý theo hai hướng song song.

Nếu nhìn hồ sơ CDEC F034605792120 của quân nhân Hoàng Hữu Ái qua lớp thứ nhất là các mô tả tóm tắt của quân đội Mỹ, ta sẽ thấy những thông tin cơ bản ghi nhận nhóm tài liệu được thu giữ vào ngày 11/8/1969 tại một trạm quân y dã chiến. Chuyển đổi hệ quy chiếu toạ độ, Luật sư Tạ Thu Phong xác định đây là khu vực Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Về mặt chiến lược, vị trí này nằm gần đường biên giới Việt Nam - Campuchia, là khu vực vành đai của căn cứ Dương Minh Châu - một căn cứ cách mạng và căn cứ quân sự quan trọng của Trung ương Cục miền Nam và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.
Kết hợp với lớp tư liệu thứ hai được phân loại là hồ sơ kỷ vật, gồm những giấy tờ cá nhân, thông tin về người chiến sĩ dần hiện rõ. Chắp nối các manh mối từ hồ sơ cho thấy chiến sĩ Hoàng Hữu Ái quê Hải Hậu, tỉnh Nam Hà (nay thuộc xã Hải Xuân, tỉnh Ninh Bình), có một người em gái tên Mùi, người chị gái tên Phương...
Ngoài ra, thông tin quan trọng cũng được xác định là mật danh "C17 – F10" trên văn bản cũng được giải mã là phiên hiệu của Đại đội 17, Trung đoàn 95C, Sư đoàn 1 thuộc Quân Giải phóng miền Nam.
Giải mã mật danh đơn vị - theo Trưởng nhóm Nghiên cứu Tạ Thu Phong - được coi là công đoạn khó khăn nhất trong công việc phân tích hồ sơ.. "Ký hiệu đơn vị thời chiến thay đổi liên tục và rất dễ trùng lặp. Nếu không giải mã đúng mật danh, chúng ta sẽ không biết người lính thuộc đơn vị nào, kéo theo việc mất đi cơ hội tìm kiếm đồng đội cũ của họ để ráp nối thông tin," anh chia sẻ. Người nghiên cứu phải sử dụng rất nhiều nguồn thông tin khác nhau để đối chiếu và xác minh.
Khi hoàn thành việc phân tích và làm việc với nhóm biên tập để hoàn tất hồ sơ nghiên cứu, cả nhóm vẫn chưa thể kết luận ông Hoàng Hữu Ái đã hy sinh, mất tích hay còn sống. Thời điểm đó, Luật sư Tạ Thu Phong chỉ có thể nhận định đây là những tài liệu cá nhân quan trọng nhưng bị bỏ lại tại một địa điểm hậu cần - cứu chữa thương binh, và đặt ra những giả thiết như có lẽ đã có một cuộc tấn công hoặc giao tranh khiến đơn vị phải rút lui gấp và không thể gìn giữ tài liệu.

Việc giải mã hồ sơ mang lại hai giá trị quan trọng. Một mặt giúp bóc tách tọa độ chôn cất, kết nối đồng đội và phục dựng bối cảnh trận đánh; mặt khác, đây là cầu nối để đưa những mảnh ký ức lưu lạc trở về với thân nhân. Ở đó, số phận con người trong chiến tranh không chỉ nằm ở những dòng chữ, mà còn hằn sâu qua hiện trạng của từng kỷ vật. Đó có thể là một cuốn sổ tay xuyên lỗ đạn, một mảnh giấy ố vàng vết máu được ghi chú quân sự thu từ "Body" (thi thể) của một người lính đã nằm lại.
Người thân, nếu được nhận lại kỷ vật, có thể cảm nhận được cảm xúc của người quân nhân vào thời điểm ấy. Chẳng hạn, giữa những ngày tháng máu lửa ấy, một ghi chép cá nhân hé lộ một góc tâm hồn của người chiến sĩ:
"Trên Tây Nguyên, giờ này con nhớ má
Nhìn núi rừng cây lá nhuộm màu xanh
Hai năm rồi mái tóc lại bạc thêm
Có lẽ má già rồi má nhỉ"
Đó là những dòng thơ mà chiến sĩ quân y Nguyễn Tài Viêng viết trên chiến trường Tây Nguyên khốc liệt. Nội dung trong sổ được ghi từ tháng 5 đến tháng 8/1969, bìa đề tựa "Nhật ký tập III". Cuốn sổ đã bị quân đội Mỹ thu giữ ngày 11/8/1969, tại một khu phức hợp bệnh viện gần biên giới Tây Ninh - Campuchia.
"Thực tế tàn khốc của chiến tranh buộc chúng ta phải thừa nhận rằng có những thi thể đã vĩnh viễn hóa vào lòng đất sau những trận bom B-52 hủy diệt hay trong những nấm mồ chung. Không hài cốt, đôi khi chẳng có tên trong danh sách liệt sĩ, họ đứng trước nguy cơ bị lịch sử lãng quên, để lại nỗi khắc khoải mỏi mòn cho gia đình", PGS Alex-Thái Đình Võ chia sẻ. "Dù hình hài không còn, nhưng qua từng trang viết, chúng ta trả lại cho họ trọn vẹn một cái tên, một thế giới nội tâm và một danh phận lịch sử. Những điều đó cho phép chúng ta phục dựng danh phận của một con người. Với tôi, bên cạnh việc tìm kiếm hài cốt, đây cũng là nhân đạo."

‘Trọn vẹn một cái tên, một nội tâm, một danh phận lịch sử’
Khi Nhóm nghiên cứu và biên tập nhận thấy hồ sơ có thông tin cho phép xác định nhân thân của một quân nhân, họ sẽ chuyển hồ sơ sang một nhóm Gắn kết cộng đồng và Lịch sử truyền khẩu, gồm những người Việt Nam đã có kinh nghiệm làm việc với các gia đình thương binh liệt sĩ.
Một ngày nọ, họ đã tìm được thông tin về quân nhân Hoàng Hữu Ái - hồ sơ mà Luật sư Tạ Thu Phong đã để ngỏ về khả năng hy sinh, mất tích hay còn sống.
Bất ngờ thay, chủ nhân của bức thư gửi em gái ấy vẫn còn sống. Chị Nguyễn Thị Thanh Thủy, chuyên viên nhóm Gắn kết cộng đồng và Lịch sử truyền khẩu, chia sẻ, quá trình đối chiếu thông tin với cán bộ xã cho thấy quân nhân Hoàng Hữu Ái hiện sống tại quê nhà Ninh Bình, mang trên mình tỷ lệ thương tật 85%.
Một ngày cuối tháng Năm, chị Thủy trực tiếp đến thăm ông. Câu chuyện giờ đây được mở ra. Theo các tài liệu phía Mỹ lưu giữ, giấy tờ của ông được thu giữ tại một bệnh viện dã chiến, nhưng ông kể rằng tài liệu của mình bị mất ngay tại hầm trú ẩn cá nhân. Khi ấy ông đang là đại đội trưởng. Sau khi cất chiếc ba lô chứa nhiều giấy tờ quan trọng vào hầm và nhờ một đồng đội trông giúp, ông quay ngược trở lại đón những đồng đội khác. Nhưng chiến sự ập đến quá nhanh. Khi ông quay lại, khu vực như đã trải qua một trận càn. Người đồng đội buộc phải rút lui khẩn cấp, chiếc ba lô biến mất từ đó.
"[...] Ông Ái thất lạc giấy tờ và trở thành một phần của hồ sơ CDEC", đó là dòng kết được bổ sung vào hồ sơ phân tích, cùng những thông tin về ông hiện tại - giờ đây là một người bằng xương bằng thịt sống một cuộc đời giản dị bên vườn rau ao cá, với chiếc chân giả và một cánh tay từng bị mảnh pháo văng vào.
Cuộc trò chuyện với ông có thể cung cấp cho Dự án những thông tin quan trọng về đại đội của mình, để từ đó có thể dẫn đến những dữ kiện chỉ lối đến nơi chôn cất những người lính.
Quả thật, hồ sơ lưu trữ là những mảnh ghép tĩnh, còn lời kể của nhân chứng sống sẽ giúp dựng lại toàn cảnh chiến trường. Theo ThS Nguyễn Thùy Linh, Trưởng nhóm Gắn kết cộng đồng và Lịch sử truyền khẩu, sau khi có được manh mối từ hồ sơ của nhóm nghiên cứu, nhóm chị sẽ giăng một "mạng lưới" tìm kiếm đa chiều. Nhóm gõ cửa từ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện, cán bộ văn hóa xã, cho đến mạng lưới cựu chiến binh (đặc biệt tại Sư đoàn 7, Sư đoàn 9) và kết hợp với nhóm truyền thông để kêu gọi cộng đồng trên mạng xã hội.
"Chúng tôi sẽ giúp xác định danh tính và kiểm tra độ chính xác của thông tin. Báo cáo tiếng Anh do phía Mỹ lập cũng không phải lúc nào hoàn toàn chính xác. Nếu tìm được đúng người hoặc đúng gia đình, chúng tôi có thể kiểm tra và sửa các thông tin đó, sau đó bổ sung vào báo cáo để cung cấp một kết quả chính xác hơn", ThS Thùy Linh giải thích.
Ngoài ra, các cuộc phỏng vấn còn giúp khai thác rất nhiều điều mà báo cáo gốc không thể có. Nếu nhân chứng còn sống, các thành viên có thể hỏi về hoàn cảnh tài liệu bị thu giữ, địa hình khu vực, trận đánh đã xảy ra, thương vong, diễn biến của đơn vị và những người có mặt. Khi tổng hợp các thông tin này, dự án có thể làm rõ hơn một địa điểm có khả năng liên quan tới mộ cá nhân hoặc mộ tập thể.

Bà Hoa, nay đã ngoài 60 tuổi, lần đầu đọc nhật ký của cha mình là liệt sĩ Nguyễn Quang Số. Cuốn nhật ký này được quân đội Hoa Kỳ thu thập vào ngày 27/2/1969, trong một căn hầm ngầm phía Đông Nam căn cứ Củ Chi (Đồng Dù), nơi Sư đoàn 25 Hoa Kỳ từng trú đóng. Cuốn nhật ký ghi lại những trận đánh mà anh và đơn vị tham gia, cùng nỗi nhớ thường trực dành cho bố mẹ, vợ con. Ảnh: Tư liệu Dự án Sáng kiến Tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh. Đồ họa: Mỹ Hạnh
Gần đây, từ một hồ sơ quân y, nhóm đã lần theo thông tin tại Cà Mau và bất ngờ phát hiện có tới hai người cùng tên Tô Minh Châu, cùng quê quán và cùng làm công tác y tế trong quân đội. Nhờ phỏng vấn thân nhân hai gia đình, nhóm nhận thấy người thứ nhất là có tên cha mẹ khá khớp với hồ sơ CDEC nhưng năm hy sinh trong giấy báo tử lại lệch. Người thứ hai có địa chỉ và tên thường gọi của người cha khá gần với dữ liệu CDEC, nhưng tên mẹ không trùng khớp.
"Nếu chỉ có hồ sơ gốc, chúng ta sẽ không bao giờ biết có hai người tên Tô Minh Châu với thông tin gần giống nhau. Chúng ta cũng không thể có được toàn bộ những dữ kiện như gia đình cung cấp", ThS. Thùy Linh cho biết. Dù hiện tại vẫn chưa có kết luận cuối cùng, trường hợp này vừa cho thấy ý nghĩa, vừa cho thấy khó khăn của lịch sử truyền khẩu và của việc phục dựng danh phận một con người từ những hồ sơ rời rạc.
Một khó khăn khác của nhóm đôi khi còn nằm ở bước tiếp cận. Về phía địa phương, một số nơi vẫn chưa hiểu rõ mục đích Dự án để hợp tác. Về phía gia đình, rào cản lớn nhất lại là tâm lý đề phòng. Từng trải qua nỗi đau bị trục lợi, lừa tiền trong nhiều năm vất vả tìm kiếm hài cốt người thân, nhiều gia đình có phần thận trọng, cảnh giác. Dù vậy, khi ngồi lại cùng gia đình của những liệt sĩ, những khó khăn đó dường như đã được hóa giải. Cuối tháng Sáu năm nay, khi đến thăm nhà liệt sĩ Nguyễn Thái Hòa, thành viên dự án đã được cho xem cuốn nhật ký của ông vào giai đoạn 1965-1966, khi ông cùng đồng đội luyện tập ròng rã để chuẩn bị lên đường đi B. Những băn khoăn của người lính trước hiện thực khốc liệt được giãi bày trên trang giấy: "Cuộc sống của con người thật là cầu kỳ và phức tạp trong mỗi dòng thời gian. Ta mơ mộng nhiều và mộng cũng vỡ tan."
Riêng hai trang cuối là những lời mà anh trai liệt sĩ - ông Nguyễn Đình Trọng - viết vào cuốn sổ của em mình năm 1975 khi hay tin em đã hy sinh: "Nỗi đau vắt quặn, nghẹt ứ lòng Anh Em Hòa ơi! [...] Em thân yêu ơi, đau thương quá Anh không còn muốn viết nữa."
Chạy đua với thời gian
Giữa tháng Bảy này, Dự án Sáng kiến Tìm kiếm Người Việt Nam mất tích trong chiến tranh đã chính thức chuyển giao hơn 50 hồ sơ nghiên cứu, kỷ vật cùng nhiều cơ sở dữ liệu quan trọng cho Ban Chỉ đạo Quốc gia 515 về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Dự án đang chạy đua với thời gian, bởi những người có thể cung cấp thông tin đang già đi và lần lượt qua đời.
Trong giai đoạn tiếp theo, Dự án sẽ chuyển từ nghiên cứu "theo hồ sơ" sang nghiên cứu "theo địa bàn", nhằm bám sát nhu cầu tìm kiếm thực địa. Dựa trên những khu vực hoặc chủ đề mục tiêu do Ban Chỉ đạo 515 khoanh vùng, nhóm sẽ truy xuất các hồ sơ liên quan, kết hợp với nhiều nguồn tin khác để xâu chuỗi thành một báo cáo định vị tổng thể. Một số khu vực trọng điểm dự án đang phân tích có thể kể đến là khu vực Tân Sơn Nhất, Bệnh viện dã chiến K76A, sân bay Lộc Ninh.

Điển hình như trận Tân Sơn Nhất, nhóm nghiên cứu cùng KTS Nguyễn Xuân Thắng đã kết hợp nhiều phương pháp để khoanh vùng vị trí. Đầu tiên là chồng lớp bản đồ thời chiến để dùng phương pháp loại trừ, như bỏ qua khu vực đường băng, nhà cửa và chỉ tập trung vào các bãi đất trống. Tiếp đó, họ phân tích hậu cảnh từ các bức ảnh chụp thi thể liệt sĩ để xác định địa tiêu thực địa. Cuối cùng, nhóm đối chiếu chéo với nhật ký chiến trường của các đơn vị Mỹ tham chiến (như Sư đoàn bộ binh 9, Lữ đoàn 3) để tìm manh mối về công cụ và cách thức chôn cất sau trận đánh.

Nhìn lại quãng thời gian 7 tháng qua của Dự án, PGS Alex-Thái Đình Võ nghĩ rằng điều mà anh tự hào nhất là sự tham gia và cần mẫn của một nhóm thành viên đa dạng từ kinh nghiệm đến tuổi tác. "Tôi mến trọng sự đóng góp của các anh chị lớn với tấm lòng và kinh nghiệm mà họ mang vào dự án. Tuy nhiên tôi cũng rất tự hào ở các bạn trẻ. Tôi cũng hiểu được việc hòa giải có lẽ sẽ khó mà thành hiện thực trong thế hệ cha mẹ chúng tôi và kể cả thế hệ của chính chúng tôi, vốn vẫn còn nhiều khúc mắc với nhau. Tôi tin vào khả năng thấu cảm của các bạn trẻ, dù các bạn chưa từng trải nghiệm trực tiếp những mất mát chiến tranh. Chính các bạn sẽ tạo ra những thay đổi lâu dài".
"Xét ở tầng sâu hơn, nỗ lực của dự án hướng tới sự hàn gắn", PGS Alex-Thái cho biết. "Chỉ khi chúng ta ‘hóa giải’ những định kiến và khúc mắc, chúng ta mới có thể đi đến ‘hòa giải’."
Là con của một sĩ quan VNCH sinh ra tại Quảng Ngãi, khi PGS Alex-Thái kể về quyết định tham gia dự án tìm kiếm những người quân nhân bên kia chiến tuyến với cha ngày xưa, cha anh ủng hộ và khuyến khích: "Con phải làm. Đó là việc nhân đạo. Mình biết mình là ai và những người đã ngã xuống đều là người Việt, là con người, là anh em của chúng ta."
Đó là điều mà ông tâm niệm trong suốt thời gian tham gia dự án.
*trích bài thơ Đất Nước - Nguyễn Khoa Điềm