Một đêm tháng 11 âm lịch, năm 1672, bên ngoài lũy Thầy nổi tiếng ven sông Nhật Lệ, Quảng Bình, một trong những trận đánh lớn cuối cùng của cuộc xung đột Trịnh - Nguyễn đã kéo dài được gần nửa thế kỷ sắp nổ ra. Tháng 10 năm đó, Trịnh Tạc huy động một lực lượng lớn tấn công Nam Hà trong trận chiến lớn thứ bảy, cũng là trận chiến cuối cùng, giữa hai bên trong vòng 46 năm.
Quân thủy phe Đàng Ngoài gồm 800 chiến thuyền dưới quyền chỉ huy của Trịnh Căn, con trai và người kế vị của Trịnh Tạc, và quân bộ do viên tướng dày dạn kinh nghiệm đã 64 tuổi Lê Thì Hiến thống suất. Đối thủ của Lê Thì Hiến, chỉ huy lực lượng phòng thủ bên phía Chúa Nguyễn Phúc Tần, là lão tướng Nguyễn Hữu Dật đã 70 tuổi và gần như là một huyền thoại sống trong quân đội Nam Hà.
Nhiều ngày giao tranh bất phân thắng bại diễn ra ở khu vực lũy Trấn Ninh, một trong ba lũy chính của hệ thống lũy Thầy. Lê Thì Hiến đã sử dụng gần như mọi thủ thuật và kỹ thuật binh pháp của thời bấy giờ: giáp công hai mặt thủy - bộ, đại bác để bắn vào lũy, các cuộc tập kích ban đêm, dùng sào dài buộc mồi lửa phóng vào trong lũy, và dùng "súng mật sự" lắp thứ đạn "một mẹ năm con" bắn thủng được cả đồ đồng, đồ sắt.
Hệ thống Lũy Thầy. Ảnh cấp phép mở CC by 3.0
Trước sức ép lớn từ lực lượng tấn công, bên phòng thủ đã phải dốc toàn lực. Đích thân Nguyễn Phúc Tần "thống suất tướng sĩ chánh doanh tiến đóng ở trại Toàn Thắng, huyện Vũ Xương để làm thanh thế tiếp viện," và tăng quân cho lũy Trấn Ninh. Nguyễn Hữu Dật ra lệnh "vơ lượm lấy các thuyền của nhân dân đỗ ở sông, bóc lấy ván, dựng lên làm sách lũy, rồi đan sọt chứa cát ở trong chia đặt thân lũy," cũng như sai quân lính bó củi và cỏ để đốt đồng loạt vào ban đêm, tạo ra hiệu ứng tâm lý lớn cho quân phòng thủ - "quân chúa Trịnh đem hết sức sắc bén ra đánh, cũng không hạ được".
Vũ khí từ bầu trời
Trong hoàn cảnh chiến sự bế tắc, Lê Thì Hiến đã viện tới thứ vũ khí tối hậu, trong những diễn biến cuối cùng của cuộc xung đột. Cảnh tượng được "Lịch triều tạp kỷ" mô tả không khác một cuộc hãm thành trong phim Chúa nhẫn đã diễn ra ở Quảng Bình vào ngày đông năm 1672 đó:
"Bọn Lê Thời [Thì] Hiến sai người đem nhiều diều giấy. Buộc đồ dẫn hỏa, nhân chiều gió, thả lên, khiến diều theo gió bay vào trong lũy, rồi cắt dây cho diều bổ xuống. Quân trại và pháo đài [ở trong lũy] bị thiêu cháy, sáng rực góc trời. Cai cơ Thái Sơn hầu đốc thúc quân lính chữa cháy: lấy nước tưới thì lửa lại lem lém bén đến thân họ, đến nỗi nhiều lính cứu hỏa bị thương chết. Đó là vì diều giấy dùng thứ dầu rái để dẫn hỏa, nếu không dùng cát thì không sao dập tắt được". [1] [2]
Diều lửa, nếu nói theo ngôn ngữ ngày nay có thể là "drone lửa", chỉ là một trong nhiều sáng tạo quân sự của thời Trung đại có tính toàn cầu đã được áp dụng trong cuộc xung đột địa phương tại Việt Nam, nhưng nó là một sáng tạo khá tiêu biểu, và rất hấp dẫn về mặt hiệu ứng tâm lý - thị giác. Nó có chi phí thấp, dễ sản xuất và triển khai, với hiệu quả không hề tồi.
Theo sử liệu ghi lại, diều lửa được sử dụng cho các mục đích quân sự đầu tiên có lẽ là vào thời Tống ở Trung Hoa. Một tổng tập về các loại vũ khí dùng lửa thời Minh ở Trung Hoa, có thể dựa trên các tài liệu vào thời Tống, đã mô tả thứ vũ khí "Thần hỏa phi nha" (Quạ bay lửa thần), có kèm cả tranh minh họa, mà thực chất là một loại vũ khí phản lực tối giản mang thuốc nổ:
"Dùng cật tre mà làm, hình dáng như con quạ, hai bên làm thành hai cái cánh, ở bụng treo lửa thần [thuốc nổ], ở đuôi cột ống lửa, thả theo chiều gió bay vào trong thành [quân địch], dùng hàng trăm con quạ như vậy, lửa sáng rợp trời, rồi thừa loạn mà tấn công, thực là phép thần cơ vậy.
Để thần hỏa, phi hỏa ở bụng, ở trong có để bộc hỏa, ở đuôi có buộc thôi hỏa. Theo gió mà thả quạ lửa hàng trăm con, khắp thành lửa cháy, trong ngoài cùng đánh, ắt là bắt được giặc". [3]
Diều lửa hẳn đã trở thành tri thức và sáng tạo có tính toàn cầu, hoặc ít ra là phổ quát ở châu Á vào thời chiến tranh Trịnh Nguyễn. Ở Thái Lan chẳng hạn, khi Vua Petracha (trị vì 1688-1703) của Vương quốc Ayutthaya xâm lăng Ratchsima vào năm 1690, ông đã dùng những con diều có gắn hũ đất sét đựng dầu, thả cho bay qua tường thành Ratchsima, rồi đốt dây diều nối với hũ đất, gây ra trận "mưa lửa" xuống thành phố. Diều lửa, như một kỹ thuật chiến tranh, như vậy đã trở thành tri thức chung của các chuyên gia quân sự thời bấy giờ, với những điều chỉnh địa phương phù hợp. [4]
Quân đội Đàng Ngoài, tranh "Võ quan vinh quy đồ" thế kỷ 17. Ảnh: Bảo tàng lịch sử, ảnh cấp phép mở CC
Cách chế tạo một chiếc diều lửa
Cũng có thể tìm thấy một hướng dẫn chế tạo và sử dụng diều lửa khá chi tiết trong tuyển tập binh pháp được cho là của Đào Duy Từ, một trong những vị tướng chủ chốt của giai đoạn đầu cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn, cũng là nhân vật đã phụ trách xây nên lũy Thầy nổi tiếng ở khu vực Đồng Hới ngày nay, bức tường phòng thủ có vai trò quyết định giúp quân Nguyễn chống trả những cuộc xâm nhập:
"Phép diều lửa đốt giặc
Phàm có gió thì nên dùng hỏa công, đó là phép thường. Nếu trại giặc rất xa mà canh giữ nghiêm ngặt, thì dẫu có gió lớn, lửa cũng không do đâu mà dùng được. Nếu làm phép diều giấy để đốt thì giặc dù có cánh bay được trong phút chốc cũng hóa ra tro hết.
Phép làm: Trước hết lấy nan tre làm cốt kết thành hình con diều hai cánh ngang ra, đem cốt diều ấy ngâm nước hơn một tháng phơi khô, lấy giấy mỏng tẩm dầu trám dán vào cốt tre làm lòng diều. Lại lấy một cân lưu hoàng, một lạng diêm tiêu nấu cho tan ra, đem vải mỏng mà tẩm rồi phơi khô, bồi vào ngoài cốt tre ấy làm da diều. Lại lấy một cân cỏ bấc đèn cũng tẩm nước ấy để làm đuôi diều. Xong rồi lại lấy một sợi dây gai dài độ một trăm bước, hoặc hai ba trăm bước, buộc vào lưng diều làm lèo và dây thả diều. Lại lấy một sợi giấy làm ngòi thuốc dài bằng dây gai buộc vào sau đuôi diều, còn thừa thì quấn vào dây diều. Nhân có gió thì thả diều lên, xem chừng hễ diều đến gần dinh trại giặc thì lấy lửa đốt vào đầu dây ngòi thuốc, lửa bén theo lên diều và cháy đứt dây, diều rơi xuống. Nếu dây diều chưa đứt thì lấy dao mà cắt khiến diều rơi xuống đốt cháy trại giặc". [5]
Đoạn mô tả kỹ thuật dùng diều lửa và hướng dẫn làm diều còn nêu ra những câu hỏi thú vị về nguyên liệu để chế tạo loại vũ khí này. Nếu như nan tre, giấy mỏng, vải, bấc đèn, dây gai đều là những nguyên liệu dân sự và bản địa tương đối quen thuộc, thì có bốn nguyên liệu khác để chế tạo những chiếc drone thô sơ này thực sự khiến nó khác biệt với một con diều bình thường: dầu rái, dầu trám, diêm tiêu, và lưu hoàng (lưu huỳnh). Bốn chất liệu này cũng cho thấy kỹ thuật quân sự này không phát triển biệt lập với những xu hướng toàn cầu của kỹ thuật chiến tranh thời bấy giờ.
Dầu rái là một chất liệu rất đặc trưng của Đông Nam Á thời cổ. Tổng tập địa chí về vùng Gia Định soạn đầu thế kỷ 19 cho biết:
Cây dầu, lá có lông, lớn như cây tỳ bà, dân gian thường dùng làm đồ vật, ghe xuồng. Thân cây có dầu, người ta đẽo hai, ba lỗ nơi gần gốc cây, rồi đốt lửa vào, nhựa chảy ra thành dầu (sách "Võ bị chí" gọi là "mãnh hỏa du," tục gọi là dầu rái), cứ ngay chỗ đẽo lấy muỗng múc lấy, dầu chảy mãi không hết. Một năm tổng số dầu sản xuất có tới hai trăm vạn cân [hai triệu cân], dùng để trét ghe thuyền, thắp đèn, lợi rất nhiều. [6]
Tên khoa học là Dipterocarpus alatus, dầu rái là loại cây gỗ lớn, thân tròn, thẳng, có thể cao tới 70 mét, từng phân bố rộng rãi ở các nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam. Ngày nay dầu rái vẫn được dùng làm nguyên liệu trong ngành sơn, vec-ni, và dùng để trét tàu thuyền và các đồ đạc chống thấm nước, dù công dụng làm chất đốt đã không còn thấy ở thời đại của nhiên liệu hóa thạch.
Tri thức lấy dầu cây dầu rái để sơn ghe, thuyền vẫn còn được duy trì đến tận ngày nay. Ảnh cắt từ video của Phạm Linh
Dầu trám cũng được ghi chép trong "Gia Định thành thông chí":
Cây sơn cảm lãm [cà na, trám trắng], thân cây cong, thớ vân quấn nhau, gỗ không dùng được, dầu trong thân tươm ra lâu ngày thành cục, gọi là chai, thứ ở dưới đất lâu năm trở nên đặc dẻo là tốt, mỗi năm sản xuất hơn hai trăm vạn cân [hai triệu cân]. Thứ này trộn với dầu rái để trét ghe thuyền và thắp đèn rất lợi. [6]
Với sản lượng lên tới hai triệu cân vào thời Nguyễn Gia Long, tức 1.000 tấn, hai loại dầu này đã được tổ chức khai thác ở quy mô lớn, do nhà nước đảm nhiệm, với các công dụng quân sự rõ ràng: dùng làm chất đốt và trét ghe, thuyền.
Dấu vết của những dòng giao thương xuyên lục địa
Những chiếc diều lửa được sử dụng trong cuộc chiến Trịnh – Nguyễn cho thấy một khía cạnh đáng chú ý của kỹ thuật quân sự thế kỷ 17: dù được chế tạo từ những vật liệu quen thuộc, chúng lại cần đến những nguyên liệu và tri thức vượt ra ngoài phạm vi địa phương. Nếu như các nguyên liệu tre, vải, bấc đèn, giấy... rất quen thuộc với đời sống hàng ngày của người Việt thế kỷ 17, thì các loại dầu rái và dầu trám ít được sử dụng hàng ngày, nhưng cũng đã được khai thác ở quy mô lớn như một ngành phụ trợ quan trọng cho các hoạt động thủ công nghiệp, mà công việc khai thác có thể do cả tư nhân và nhà nước tổ chức.
Diêm tiêu và lưu huỳnh, trong khi đó, là những hàng hóa đòi hỏi kỹ thuật khai thác phức tạp và có tính quốc tế hóa cao độ thời bấy giờ. Hồ sơ thương mại của Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) năm 1668 cho thấy Chúa Trịnh Tạc đã ra lệnh cho các thương nhân Hà Lan cung ứng cho chính quyền Đàng Ngoài 100.000 catty (60.000 kg) lưu huỳnh, 50.000 catty (30.000 kg) diêm tiêu, cùng một danh sách dài các nguyên liệu rõ ràng là sử dụng để chế tạo vũ khí. [7]
Thuốc súng, với thành phần 10% than đá, 75% diêm tiêu, và 15% lưu huỳnh, là nguyên liệu thiết yếu cho chiến tranh ở châu Á, bao gồm chiến tranh Trịnh Nguyễn, vào thế kỷ này, gồm cả sử dụng cho các đại pháo lẫn vũ khí cầm tay. Mỗi chiếc thuyền của VOC khi rời Hà Lan đều được trang bị gần 5.000 kg thuốc súng. Lượng thuốc súng cực lớn này không phải để bảo vệ tàu, mà là để đáp ứng nhu cầu khổng lồ ở châu Á. Khi tàu tới thương điếm chính của VOC ở Batavia, giới chức công ty sau đó sẽ quyết định phân phát thuốc súng theo ý họ. Từ đầu thế kỷ, người Hà Lan đã có hai cơ sở sản xuất thuốc súng hoạt động ở Ambon, và đang xây một cơ sở thứ ba ở Batavia, dù các cơ sở này có vẻ không vận hành trong các thập kỷ sau đó. Những nỗ lực tự sản xuất thuốc súng của VOC ở châu Á được tái khởi động từ năm 1655. Tới năm 1662, riêng ở Batavia, sản lượng thuốc súng của VOC đã là gần 15.000 kg. Thêm vào đó các xưởng tại Pulicat, Colombo và bờ biển Coromadel, VOC đã có được nguồn cung thuốc súng dồi dào.
Hình ảnh tàu thuyền tấp nập trên sông Hội An: Nguồn: Sách "Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793)" của tác giả John Barraow
Than đá thì đã luôn sẵn có ở vùng đông bắc Việt Nam. Lưu huỳnh có thể tìm thấy ở quần đảo Banda, Indonesia. Diêm tiêu, tinh thể là sản phẩm của quá trình chuyển hóa các chất hữu cơ giàu Ni-tơ (về cơ bản là phân chim, phân dơi để lâu ngoài trời) có ở nhiều nơi và trong những thập niên đầu của thế kỷ mười bảy, người Hà Lan chủ yếu nhập diêm tiêu từ vùng Baltic. Nhưng khi chiến tranh Ba mươi năm nổ ra ở châu Âu vào năm 1627, nguồn cung này gặp nhiều khó khăn, và VOC bắt đầu mua và khai thác diêm tiêu với khối lượng lớn từ vùng ven biển Coromandel, Ấn Độ, không chỉ để đáp ứng nhu cầu tại Hà Lan, mà cho cả châu Á. Lấy ví dụ, những năm 1658-1660, bốn hải đội chở tổng cộng hơn 1 triệu kg diêm tiêu đã về Hà Lan, gần bằng với lượng nhập khẩu từ vùng Baltic nửa thế kỷ trước. [8]
Ngoài nguyên liệu, việc chế tạo vũ khí còn đòi hỏi tri thức và kỹ thuật. Thuốc súng vốn không phải công nghệ xa lạ với châu Á vào thế kỷ XVII, nhưng kỹ thuật sản xuất đã có những cải tiến đáng kể. Ở châu Âu, từ đầu thế kỷ XV, phương pháp trộn ướt và tạo hạt thuốc súng (corned powder) đã giúp hỗn hợp đồng đều hơn, hạn chế sự phân tách của các thành phần và cải thiện hiệu quả sử dụng. [9]
Những cải tiến kỹ thuật này cũng lưu chuyển trong khu vực châu Á. Dù khó tái hiện hoàn chỉnh thứ thuốc súng mà quân đội hai bên Trịnh, Nguyễn đã sử dụng trong cuộc chiến (một số khẩu súng kim loại hiện vẫn còn, nhưng thuốc súng thì không), các nguồn tư liệu ở châu Á và châu Âu thời bấy giờ nói chung cho rằng thuốc súng châu Âu có chất lượng rất tốt, và nhiều xã hội châu Á đã sao chép cách làm của phương Tây. Ví dụ vào năm 1662, chiếc tàu Hooge Regeering báo cáo với các giám đốc VOC rằng chỉ hai năm sau khi xưởng thuốc súng vận hành bằng nước của họ hoàn tất, một xưởng gần như giống hệt đã mọc lên ở Makassar, Indonesia. Vương quốc Mataram của người Java cũng đã học được nghề làm thuốc súng từ người Bồ Đào Nha ở Malacca vào năm 1624. [7]
Mười tám năm sau đó, vào cuối mùa bão năm 1641, hai chiếc tàu Hà Lan Maria de Medicis và Gulden Buijs đang trên đường đi Đài Loan thì gặp một trận bão lớn và bị đắm ngoài khơi Tam Kỳ, cách Cù Lao Chàm 130 km về phía nam. Biến cố này khởi đầu cho những đụng độ vũ trang kéo dài giữa các Chúa Nguyễn và lực lượng của VOC ở Đông Nam Á và châu Á sau đó. Tám mươi hai người sống sót của hai tàu (ba mươi người trên chiếc Gulden Buijs và năm mươi hai trên chiếc Medicis) đã dạt vào bờ, cùng một lượng đáng kể tiền bạc và hàng hóa. Họ lập tức bị bắt giữ. Hàng hóa, tiền bạc, và mười tám khẩu đại pháo bị Chúa Nguyễn tịch thu. Chúa Nguyễn cũng đã giữ lại hai tay hạm pháo thủ để phục vụ cho ông. Có lẽ đây là bằng chứng thành văn sớm nhất về các chuyên gia vũ khí phương Tây phục vụ cho Việt Nam.
Mười tám năm sau nữa, vào khoảng cuối những năm 1650, một người Bồ Đào Nha tên là João da Cruz đã tới Đàng Trong và trở thành người phụ trách xưởng đúc đại bác cho Chúa Nguyễn. Ta có thể tin rằng da Cruz, nhiều khả năng là một người lai Bồ - Ấn, cũng mang theo cùng ông tri thức về sản xuất thuốc súng.
Ở Đàng Ngoài, vào năm 1670, để chuẩn bị cho chiến dịch Nam tiến cuối cùng của thế kỷ 17 vào năm 1672 (khi diễn ra trận đánh của Lê Thì Hiến ở lũy Thầy nói trên), Chúa Trịnh Tạc từng yêu cầu chính quyền Hà Lan cung cấp không chỉ vũ khí, mà cả các hạm pháo thủ lành nghề. Ông yêu cầu những người này ở lại Đàng Ngoài để hỗ trợ ông, dù Batavia không thể đáp ứng. Sau đó nữa, trong giai đoạn 1672-1677, khi chiến sự với Đàng Trong đã lắng xuống và Trịnh Tạc tập trung vào xử lý dứt điểm vấn đề tàn quân nhà Mạc ở vùng biên giới Việt - Trung, ông đã lại yêu cầu VOC cung cấp các hạm pháo thủ và thợ làm súng lành nghề tới Thăng Long. Những yêu cầu này đều bị VOC từ chối, nhưng nó rõ ràng cho thấy Chúa Trịnh đã có những hiểu biết về trình độ tay nghề và công nghệ của vũ khí phương Tây, cụ thể là thợ làm súng, đúc pháo, chế thuốc nổ, và cả những pháo thủ vận hành các loại vũ khí đó, những người có thể không tham chiến trực tiếp, nhưng sẽ có vai trò quan trọng huấn luyện cho quân đội của ông.
Như vậy, những chiếc diều lửa ở lũy Thầy không đơn thuần là một sáng tạo quân sự tại chỗ. Kỹ thuật làm diều mang vật liệu gây cháy đã xuất hiện trong các truyền thống quân sự ở nhiều nơi tại châu Á, trong khi những nguyên liệu để chế tạo chúng vừa có nguồn gốc bản địa, vừa gắn với các mạng lưới thương mại rộng lớn hơn. Đến thế kỷ 17, diêm tiêu và lưu huỳnh, hai thành phần quan trọng của thuốc súng và nhiều loại vũ khí gây cháy, đã trở thành những mặt hàng được trao đổi rộng rãi ở Đông Nam Á và trên thị trường quốc tế.
Bởi vậy, ngay trên một chiến trường ở miền Trung, cách xa châu Âu nửa vòng trái đất, có thể nhận ra dấu vết của những dòng lưu chuyển nguyên liệu và kỹ thuật quân sự xuyên lục địa trong thời đại Khám phá.
Trần Trọng Hải Minh tổng hợp
Phạm Hoàng Quân hiệu đính
[1] Cao Lãng, Xiển Trai (Hoa Bằng, Hoàng Văn Lâu dịch; Văn Tân hiệu đính), Lịch triều tạp kỷ (bản in năm 2021).
[2] Có thể đối chiếu thêm với ghi chép quân của Lê Thì Hiến "thả diều giấy phóng lửa" trong cuốn Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, tập 2. Nguồn: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/book/sach-chinh-tri/lich-su-tu-tuong-quan-su-viet-nam-tap-2-tu-nam-1428-den-nam-1858-326?
[3] Hỏa long thần khí trận pháp, Thần hỏa phi nha (火龍神器陣法, 神火飛鳩), https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&chapter=766798
[4] Chuck wow: How the Thai elite loved flying kites, https://www.newmandala.org/chuck-wow-how-the-thai-elite-loved-flying-kites/
[5] Đào Duy Từ (?), Hổ trướng khu cơ (bản in năm 1974)
[6] Trịnh Hoài Đức (Lý Việt Dũng dịch và chú giải), Gia Định thành thông chí, Vật sản chí (bản in năm 2004). Ghi chú: Trong "Võ bị chí", bách khoa thư quân sự thời Minh, do Mao Nguyên Nghi biên tập, 240 quyển, thành sách năm 1621, Mãnh hỏa du (dầu mãnh hỏa / dầu tạo lửa mạnh) đề cập trong quyển 130 (Quân tư thừa, Hỏa khí đồ thuyết) trong mục mô tả cách chế tạo loại vũ khí có tên "mãnh hỏa du xu" (cỗ máy bắn lửa mạnh bằng nhiên liệu dầu). Tuy nhiên, trong lời văn thuyết minh đồ hình "mãnh hỏa du xu" thì không thấy nói "mãnh hỏa du tức dầu rái," còn Hán ngữ đại từ điển hiện nay thì nói "Mãnh hỏa du tức thạch du," mà "thạch du" tức là loại dầu ta gọi là dầu lửa hiện nay. Mãnh hỏa du ở Gia Định và ở Trung Quốc có thể trùng tên, khác loại.
[7] Hoàng Anh Tuấn, Silk for Silver: Dutch-Vietnamese relations, 1637-1700 (bản in năm 2007)
[8] Chain of Command, The military system of the Dutch East India Company 1655-1663, Gunpowder, https://vocwarfare.net/thesis/2/gunpowder
[9] The gunpowder revolution, c. 1300-1650, https://www.britannica.com/technology/military-technology/The-gunpowder-revolution-c-1300-1650#ref522002