CBDC (Central Bank Digital Currency) là tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương của một quốc gia phát hành và bảo đảm giá trị, tương tự tiền mặt đang lưu hành. Người dân và doanh nghiệp có thể sử dụng CBDC trong thanh toán hằng ngày. CBDC cũng được sử dụng để phục vụ thanh toán giữa các ngân hàng và tổ chức tài chính.
Trong bối cảnh Việt Nam đang lên kế hoạch nghiên cứu, triển khai thử nghiệm CBDC từ năm 2029, Tia Sáng đã trò chuyện với TS Trần Quang Hưng - Chủ tịch Hội đồng thành viên Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Hà Nội, người có những công bố khoa học về CBDC từ năm 2022 và mới đây đã bảo vệ tiến sĩ với luận án về các điều kiện thúc đẩy sự ra đời tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam [1].
PV: Theo ông, sự xuất hiện phiên bản số của tiền mặt có dẫn đến sự chấm dứt của tiền mặt?
TS Trần Quang Hưng là Chủ tịch Hội đồng thành viên Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Hà Nội. Ảnh: BT
TS Trần Quang Hưng: Khoảng trống hiện nay nằm ở chỗ tiền của ngân hàng trung ương mới hiện diện trực tiếp với công chúng chủ yếu dưới dạng vật lý, trong khi đời sống kinh tế ngày càng vận hành trên môi trường số do các trung gian cung cấp.
Nhưng tín hiệu ấy không có nghĩa tiền pháp định truyền thống đã hết vai trò, càng không có nghĩa CBDC phải thay thế tiền mặt. Tiền mặt vẫn là một hạ tầng công có giá trị, nhất là trong các tình huống mất kết nối, thiên tai hoặc đối với nhóm người chưa tiếp cận đầy đủ dịch vụ số.
CBDC, nếu được lựa chọn, có thể bổ sung một dạng tiền công trong không gian số, tạo chuẩn an toàn chung và tăng khả năng kết nối; nhưng nó chỉ đáng làm khi giải quyết được một bài toán rõ ràng tốt hơn các công cụ hiện có.
Mặt khác, CBDC có trở thành mối lo của các ngân hàng thương mại không khi vai trò trung gian thanh toán và huy động vốn của họ có thể bị ảnh hưởng nếu dòng tiền dịch chuyển trực tiếp về ngân hàng trung ương?
Phi trung gian hóa đúng là một trong những lo ngại thực chất nhất của ngân hàng thương mại. Nếu người dân có thể nắm giữ CBDC không giới hạn, đặc biệt trong thời kỳ bất ổn, tiền gửi có thể dịch chuyển rất nhanh khỏi ngân hàng thương mại. Điều đó khiến ngân hàng bị thu hẹp nguồn lực tín dụng và có thể khuếch đại một cuộc rút tiền gửi trong khủng hoảng.
Còn có một lý dó khác khiến ngân hàng thương mại dè dặt trước CBDC, đó là việc tham gia vào hệ thống CBDC làm phát sinh thêm chi phí nâng cấp hệ thống, trách nhiệm tuân thủ, thay đổi mô hình doanh thu, yêu cầu vận hành 24/7 và câu hỏi ai chịu trách nhiệm với khách hàng khi xảy ra sự cố.
Tuy nhiên, có thể giảm đáng kể rủi ro này bằng thiết kế. Tôi ủng hộ mô hình hybrid hai tầng: Ngân hàng Nhà nước phát hành và bảo đảm giá trị của CBDC; ngân hàng thương mại và các trung gian được giám sát tiếp tục đảm nhiệm khâu phân phối, nhận biết khách hàng, chăm sóc người dùng và phát triển dịch vụ. CBDC phát hành cho người dân sử dụng - hay CBDC bán lẻ - nếu có, không được trả lãi trong giai đoạn đầu, có hạn mức nắm giữ hoặc cơ chế tự động chuyển phần vượt hạn mức về tài khoản ngân hàng, kèm theo các bài kiểm tra sức chịu đựng của hệ thống ngân hàng, đặc biệt trong kịch bản một lượng lớn tiền gửi chuyển sang CBDC trong thời gian ngắn. Ngân hàng Trung ương Châu Âu ECB cũng đang đi theo logic hạn mức nắm giữ, không trả lãi và phân phối qua trung gian để bảo vệ ổn định tài chính.
Cách tiếp cận đúng không phải là thiết kế CBDC để thay thế ngân hàng, mà để ngân hàng trở thành một thành phần của hạ tầng tiền công mới. Khi lợi ích và trách nhiệm được phân bổ rõ, ngân hàng thương mại có thể chuyển từ vị thế "đối tượng bị ảnh hưởng" sang "đối tác triển khai", tạo thêm dịch vụ trên nền tảng CBDC và cùng Ngân hàng Nhà nước duy trì sự ổn định của hệ thống.
Bên ngoài trụ sở Ngân hàng Nhà nước tại Hà Nội. Ảnh: Giang Huy
Tại Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến 2045, Chính phủ đặt mục tiêu nghiên cứu và đánh giá khả năng triển khai đồng tiền kỹ thuật số quốc gia CBDC. Qua những gì mình đã nghiên cứu, ông có thể cho biết những điều kiện nào cần được hình thành đồng bộ để CBDC ra đời an toàn, được xã hội tin cậy và tạo ra giá trị sử dụng thực sự?
Đây cũng chính là câu hỏi mà luận án tiến sĩ của tôi tập trung giải quyết. Tôi xây dựng một khung phân tích đặc thù cho Việt Nam, dựa trên logic về các điều kiện cần và đủ để đánh giá khả năng CBDC ra đời và vận hành an toàn, hiệu quả.
Theo đó, giai đoạn tạo lập gồm bốn điều kiện tiền đề: mục tiêu chính sách rõ ràng, khuôn khổ pháp lý đủ vững, sự tham gia của các bên liên quan và năng lực công nghệ. Giai đoạn tiếp theo là kiểm chứng tính khả thi thị trường, với trọng tâm là sự chấp nhận của người sử dụng cuối cùng.
Điểm quan trọng là bốn điều kiện đầu chỉ tạo ra khả năng phát hành; điều kiện thứ năm mới quyết định đồng tiền đó có thực sự đi vào đời sống hay không.
Giá trị của khung này nằm ở chỗ nó đo được. Kết quả khảo sát với 220 đại diện của bốn nhóm chủ thể, từ nhà hoạch định chính sách tới người dùng cá nhân, cũng như hành vi trên 2.025 cá nhân/hộ gia đình, cho thấy chúng ta không còn phải tranh luận cảm tính, mà biết chính xác sự ủng hộ của các bên liên quan và mục tiêu chính sách đã ở mức khá tích cực. Đồng thời, khung đó cũng cho biết chúng ta đang nghẽn ở khuôn khổ pháp lý và nhận thức của công chúng về CBDC.
Những điểm nghẽn đó liệu có dẫn đến nguy cơ CBDC trở thành một hệ thống hoàn chỉnh về lý thuyết nhưng hạn chế về tính ứng dụng thực tiễn?
Nguy cơ đó là hoàn toàn có thật. Một CBDC có thể đạt chuẩn kỹ thuật rất cao nhưng vẫn thất bại nếu người dân không thấy lý do để chuyển từ tiền mặt, tài khoản ngân hàng hoặc ví điện tử sang một công cụ mới.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy "phát hành" và "được sử dụng" là hai thành tựu rất khác nhau. Đồng eNaira của Nigeria là lời cảnh báo rõ nhất: một năm sau khi ra mắt, tỷ lệ chấp nhận vẫn dưới 0,5%, dù công nghệ đã sẵn sàng và Nhà nước hậu thuẫn mạnh. Ở chiều ngược lại, e-CNY của Trung Quốc thu hút hơn 260 triệu người dùng phần lớn nhờ được tích hợp vào các nền tảng thanh toán quen thuộc, thay vì buộc người dân thay đổi thói quen. "Phát hành" là việc của công nghệ, còn " sử dụng" là việc của niềm tin - và cái giá phải trả cho hai việc đó rất khác nhau.
Dữ liệu luận án cho thấy Việt Nam cần cân nhắc đặc biệt nguy cơ này ngay từ hôm nay: người Việt đã rất quen thuộc với thanh toán số, song phần lớn chưa thực sự nắm được CBDC là gì và khác gì so với ví điện tử/banking app họ đang dùng.
Vì vậy, tính khả thi thị trường phải được đưa vào ngay từ giai đoạn thiết kế thông qua ba câu hỏi. Một là, CBDC giải quyết tình huống sử dụng nào tốt hơn? Chẳng hạn thanh toán xuyên biên giới, chi trả an sinh có điều kiện, thanh toán công, giao dịch ngoại tuyến ở khu vực hạ tầng yếu hoặc quyết toán tài sản số. Hai là, người dùng phải trả cái giá nào về thao tác, chi phí và dữ liệu cá nhân? Ba là, hệ sinh thái chấp nhận gồm ngân hàng, doanh nghiệp, cơ quan công và người dân có đủ động lực tham gia hay không?
Tôi kiến nghị cơ chế thử nghiệm theo từng trường hợp sử dụng, với chỉ số "đi tiếp hay dừng lại" được công bố trước: tỷ lệ người dùng hoạt động thực, chi phí trên mỗi giao dịch, mức độ hài lòng, số sự cố, tác động tới tiền gửi ngân hàng và mức độ tin tưởng về quyền riêng tư. Nếu một thử nghiệm không tạo ra lợi ích vượt trội, quyết định đúng có thể là điều chỉnh hoặc chưa mở rộng, chứ không nhất thiết phải phát hành chỉ vì đã đầu tư. Kỷ luật dừng đúng lúc cũng là một năng lực đổi mới chính sách.
Sự thận trọng đó có khả năng làm mất cơ hội của Việt Nam trong việc xác lập vị thế ở khu vực về tài chính số và hạ tầng tiền tệ thế hệ mới trong thập kỷ tới không?
Cơ hội của Việt Nam không nhất thiết nằm ở việc trở thành quốc gia phát hành CBDC bán lẻ sớm nhất. Đi trước về thời gian nhưng chọn sai bài toán hoặc thiết kế thiếu niềm tin có thể tạo ra một hệ thống tốn kém mà ít người dùng. Cơ hội thực chất là trở thành một trong những quốc gia đang phát triển xây dựng được mô hình tiền số công an toàn, tương thích khu vực và giải quyết đúng nhu cầu của nền kinh tế.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng thận trọng không có nghĩa là đi chậm. Thận trọng đúng nghĩa là tiến từng bước nhưng mỗi bước đều có tiêu chí kiểm chứng và cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng. Người đi sau có một lợi thế mà người đi trước không có: được học từ thất bại của người khác.
Vì vậy, kiến nghị cốt lõi trong luận án của tôi không phải là phát hành CBDC càng sớm càng tốt, mà là chuẩn bị theo đúng thứ tự: xác định bài toán chính sách, hoàn thiện thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý, thiết kế cơ chế phối hợp, thử nghiệm công nghệ có kiểm soát, rồi mới mở rộng theo mức độ chấp nhận thực tế.
Nếu được chuẩn bị bài bản và đủ kiên định, Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào thập kỷ tới không phải với tâm thế của người đi sau học việc, mà của một quốc gia tham gia định hình chuẩn mực tiền tệ số trong khu vực.
Những câu hỏi về lịch sử tiền tệ, điều kiện sẵn sàng, các nút thắt và lộ trình cho Việt Nam cũng là nội dung tôi đang tiếp tục phát triển trong một cuốn sách chuyên khảo sắp ra mắt. Tôi hy vọng cuốn sách sẽ góp thêm một tiếng nói có căn cứ cho cuộc đối thoại chính sách mà Việt Nam cần tiến hành ngay từ bây giờ.
Trân trọng cảm ơn anh đã chia sẻ.
---
Chú thích:
[1] Trần Quang Hưng, Luận án Tiến sĩ ngành Quản trị Kinh tế, Các điều kiện thúc đẩy sự ra đời tiền kỹ thuật số (CBDC) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2026. https://hcma.vn/noidung/Lists/ListTinTuc/Attachments/21216/Lu%E1%BA%ADn%20%C3%A1n-%20Tr%E1%BA%A7n%20Quang%20H%C6%B0ng.pdf?