Những cấu trúc vĩ đại của vũ trụ tựa vào vô vàn tương tác nhỏ bé của electron, photon, neutrino, mờ nhạt và gần như vô hình, lặng lẽ nâng đỡ những cỗ máy khổng lồ của thế giới thực tại. Ngay cả những tương tác gọi là "yếu", đứng bên cạnh tương tác "mạnh" trong hạt nhân, tương tác điện từ giữa các nam châm hay các hạt mang điện đã, đang và góp phần thắp sáng các vì sao trong hàng triệu, hàng tỷ năm. Cái mà ta gọi là "yếu", trên thực tế, có thể là thứ không thể thiếu được.
Mối tương quan giữa khoa học và công nghệ phần nào cũng có những nét tương đồng. Công nghệ thường hào nhoáng và chói lọi với những động cơ mạnh mẽ, những cỗ máy phức tạp, những vũ khí tối tân, vv... Nhưng bên dưới mỗi cỗ máy phức tạp ấy là sự lao động thầm lặng cần đáng trân trọng: sự truy vấn kiên nhẫn chỉ có duy nhất ở loài người về lý do vì sao tự nhiên vận hành như nó vẫn vận hành.
Khoa học cơ bản hiếm khi hiện diện trong đời sống hàng ngày, không sinh ra lợi nhuận tức thì, không để lại tượng đài hữu hình nhưng thiếu nó, công nghệ chỉ là kẻ đi vay không có người cho vay, tiêu xài một gia sản mà nó không hề tự kiếm được và cũng không thể tự bù đắp được. Một xã hội chỉ tôn thờ sự phát minh, một ngày kia sẽ nhận ra rằng các phát minh của mình đã trở nên cạn dần.
Quá trình phát triển từ ống chân không cho liên lạc điện thoại đến transistor, vi mạch, và con chip quyền lực ngày nay trong mọi thiết bị có điều khiển. Nguồn: memorial/bellsystem
Đơn cử như transistor, linh kiện nhỏ bé đóng/ngắt và xử lý tín hiệu điện tử trên con chip, thứ không thể thiếu trong mọi thiết bị điều khiển hiện đại ngày nay thực chất sinh ra từ những con người miệt mài suy ngẫm về hành vi kỳ lạ của hạt electron nhỏ bé trong cấu trúc của vật chất. Công nghệ laser, vệ tinh, vắc-xin, trí tuệ nhân tạo, lượng tử ... mỗi thứ đều khởi đầu từ một sự tò mò trong một căn phòng yên tĩnh nào đó, rất lâu trước khi trở thành một ngành công nghiệp có giá trị kinh tế đáng kinh ngạc. Trí óc dám hỏi "vì sao" trước các quy luật của tự nhiên chính là những hạt vô hình mà từ đó những cấu trúc hữu hình của tiến bộ nhân loại được tạo thành.
Mối tương quan giữa phát triển văn hóa và sự trỗi dậy của công nghiệp hiện đại phần nào cũng thể hiện điều này. Kinh tế Châu Âu giàu lên bởi nhiều thế kỷ trước khi cỗ máy hơi nước đầu tiên chuyển động, những con người đã đặt ra những câu hỏi "trên trời" về sức nặng của không khí, về những lực vô hình trong những viên đá nam châm. Động cơ hơi nước là công trình của những người thích mày mò: Thomas Newcomen, người thợ rèn dựng nên cỗ máy hơi nước thực dụng đầu tiên năm 1712, và James Watt, người thợ chế tạo dụng cụ về sau cải tiến nó.
Tuy nhiên, những phát minh định hình cuộc cách mạng công nghệ như máy phát điện, thuốc nhuộm, sóng vô tuyến, vv... lại là sản phẩm của những nhà nghiên cứu tự nhiên không xuất phát từ nhu cầu kinh tế nào từ những khám phá ấy. Và điều khiến lục địa này tạo nên những bước nhảy vọt trong kinh tế hiện đại, có lẽ, là từ phát minh chiếc máy in của Johannes Gutenberg, thứ đã đưa tri thức đến số đông và để câu hỏi của một người chạm tới ngàn trí óc.
Như nhà sử học kinh tế Joel Mokyr (Nobel 2025) lập luận trong cuốn "Văn hóa của Phát triển", rằng thứ thực sự làm nên cuộc Cách mạng Công nghiệp là một thứ thuộc về văn hóa: niềm tin khoa học rằng những bí mật của tự nhiên có thể được khám phá một cách có hệ thống, rằng tri thức là của chung và phải được tích lũy, chia sẻ, đem ra thử thách. Niềm tin ấy được truyền đi, được nuôi dưỡng bởi cộng đồng các nhà khoa học xuyên biên giới.
Đó cũng là lý do vì sao tiến bộ ở châu Âu trở nên tự nuôi dưỡng và tự phát triển: bởi cái biết "vì sao" (khoa học) và cái biết "làm thế nào" (công nghệ) tìm thấy nhau, và lại tiếp tục mở ra những câu hỏi mới cho khoa học.
Hai nhà vật lý M. Stanley Livingston và Ernest O. Lawrence (Nobel Vật lý 1939, phải) trước máy gia tốc của Lawrence tại Phòng thí nghiệm Bức xạ Lawrence. Máy gia tốc hạt, ban đầu được phát triển để nghiên cứu cấu trúc cơ bản của vật chất, về sau đã góp phần tạo ra nhiều công nghệ ứng dụng quan trọng như xạ trị ung thư, chẩn đoán hình ảnh y học, công nghệ vật liệu. Ảnh: Wikicommons
Nước Mỹ kế thừa bài học này và giữ gìn nó một cách kỹ lưỡng. Những trường đại học, cao đẳng được dựng nên khắp nơi để con cái của người nông dân có thể học khoa học; và sau chiến tranh thế giới lần II, họ đã chọn thứ gần như đi ngược lại nhu cầu thực dụng, là đổ tiền công quỹ vào sự truy vấn chẳng hứa hẹn điều gì cụ thể.
Năm 1945, theo yêu cầu của Tổng thống Roosevelt từ trước đó, Vannevar Bush, người đã điều phối khoa học Mỹ suốt thời chiến, trình lên bản báo cáo "Khoa học, biên giới vô tận" (Science, the Endless Frontier). Luận điểm đơn giản nhưng táo bạo: khi biên cương địa lý đã khép lại, thì khoa học chính là biên cương vô tận còn mở ra phía trước. Bush gọi nghiên cứu cơ bản là "người dẫn nhịp" cho mọi tiến bộ công nghệ, và lập luận rằng những sản phẩm, những quy trình mới không bao giờ ra đời một cách ngẫu nhiên mà được dựng trên những nguyên lý mà khoa học thuần túy phải nhọc nhằn khai phá từ trước.
Tri thức cơ bản là một thứ "vốn khoa học", một kho chung mà công nghệ ứng dụng cứ thế rút ra mà tiêu, và một dân tộc tiêu mãi nhưng không bồi đắp thì sớm muộn cũng cạn. Vì tư nhân sẽ luôn đầu tư quá ít vào những tri thức không mang lại lợi nhuận tức thì, nhà nước phải gánh lấy việc ấy- rót tiền vào các trường đại học, nhưng vẫn để nhà khoa học được tự do chọn lấy câu hỏi của riêng mình. Chính từ tầm nhìn này mà Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) ra đời, và cùng với nó là khế ước thầm lặng giữa các nhà khoa học và quốc gia kéo dài suốt 3/4 thế kỷ. Từ đầu tư đó ra đời transistor, mạng Internet, hệ thống định vị toàn cầu, tia laser...
Cùng với vốn khoa học, nguồn năng lượng bền vững của một nền văn minh còn được bồi đắp bởi vốn con người, vốn văn hóa, ở việc xã hội có tạo điều kiện cho từng con người phát triển năng lực, lòng tự trọng và trí tò mò hay không.
Vannevar Bush, kiến trúc sư của khoa học Mỹ hiện đại, người thảo ra kế hoạch đầu tư cho khoa học cơ bản Mỹ sau Thế chiến 2. Ảnh: Wikicommons
Một quốc gia đi sau vẫn có thể vươn lên nếu biết xây dựng cho mình văn hóa học tập, lòng tự trọng nghề nghiệp và khả năng hấp thụ tri thức từ bên ngoài. Nhật Bản đã hai lần tái thiết chính mình trên cùng một giá trị văn hóa nền tảng: tự tôn dân tộc. Những con người thời Minh Trị gửi lớp trẻ ra nước ngoài không phải để mua máy móc, mà để học cách máy móc được vận hành, và họ xây trường học nhanh hơn dựng nhà máy. Đứng sau sự lựa chọn ấy là nhà tư tưởng Fukuzawa Yukichi. Tư tưởng cốt lõi của ông gói gọn trong bốn chữ: độc lập, tự tôn.
Fukuzawa tin rằng một quốc gia chỉ độc lập được khi từng người dân của quốc gia đó độc lập, rằng sức mạnh của cả dân tộc không nằm ở tham vọng chủ quan của triều đình, mà tích lại từ lòng tự trọng và năng lực tự thân của hàng triệu con người bình thường. Nước mạnh, chính là từ tổng hòa của những cá nhân biết tự đứng trên đôi chân của mình. Sự sẵn sàng học tập, làm việc, phát triển và lòng tự trọng của mỗi người dân là nền móng vững chắc cho bất cứ sự phát triển thịnh vượng nào. Chính trên cái nền móng ấy mà sau khi bị đánh bại và thiêu rụi, dân tộc này lại đứng dậy một lần nữa, trước hết bằng cách hoàn thiện những gì dân tộc khác đã phát minh, rồi đến lượt mình, phát minh ra những gì dân tộc khác chưa từng.
Con người dù trong bất cứ hoàn cảnh nào là trọng tâm của sự phát triển. Khá tương đồng với sự vận hành của tự nhiên, đức tính khiêm nhường, sự tin cậy giữa đồng nghiệp, tinh thần sẵn sàng chia sẻ điều mình biết, thói quen chuẩn bị, kỷ luật không cần người giám sát, lòng can đảm không cần phô trương - những thứ ấy có vẻ nhỏ bé bên cạnh tiếng vang của tham vọng quốc gia - lại là những hạt vô hình mà từ đó một nền văn minh rút lấy nguồn năng lượng bền lâu của mình.
Năng lực của một quốc gia không đến từ tham vọng của quốc gia đó mà đến từ sự sẵn sàng học tập, sẵn sàng làm việc, sẵn sàng phát triển bản thân, nâng cao tri thức của toàn thể quốc dân của dân tộc đó. Những điều đó nhỏ bé, vô hình, nhưng trải khắp giống như những hạt cơ bản nhỏ bé đang nâng đỡ cấu thành vĩ đại của vũ trụ. Một nền văn minh thực sự mang đến cho quốc dân của họ không gian để phát triển, vun bồi cả năng lực của những con người bình thường lẫn lòng hiếu kỳ khoa học của một số ít người khác sẽ có được điều hiếm hoi: sức bền bỉ. Và sức bền bỉ, hơn cả vinh quang, mới là thứ cho phép một nền văn minh sống sót qua lịch sử của chính nó và vươn tới một tầm cao mới.
Khoa học cơ bản, trong mối tương quan với công nghệ và đổi mới sáng tạo, cũng cần những không gian phát triển như thế, để có thể tiếp tục là "người dẫn nhịp" cho những tiến bộ của con người ở phạm vi quốc gia cũng như trên toàn thế giới.
---
Nguồn tham khảo chính:
- Joel Mokyr, a Culture of Growth (2016)
- Vannevar Bush, Science, the Endless Frontier (1945), written for President Roosevelt
- Fukuzawa Yuichi, Encouragement of Learning (1876)
- Eric Hoffer, The Passionate State of Mind, and Other Aphorisms (1955); Reflections on the Human Condition (1973)